Sign up

SỔ ĐIỂM KỲ II LẦN KHOÁ 44 NĂM HỌC 2008 - 2009

Published on 18:13, 07/08,2009

 

HOTEN

DK1

GPV

NN1

SC

SH

TD1

XBT

TBK2

Trương Văn Cường     

10

 9

 8

 9

 7

 9

 9

8.708

Đào Phương Dung      

 8

 8

 9

 6

 8

 8

 9

8.167

Trần Văn Đăng        

 7

 8

 7

 6

 4

 5

 8

6.458

Nguyễn Thị Giang     

 7

 9

 8

 7

 5

 7

 8

7.333

Đinh Quang Giao      

 6

 9

 8

 8

 7

 8

 9

7.792

Phạm Văn Hiệp        

15

 8

 4

 4

 5

 7

 7

4.833

Nguyễn Quang Huy     

 7

 8

 6

 5

 5

 7

 8

6.625

Nguyễn Quốc Huy      

 7

 8

 4

 3

 5

 5

 8

5.708

Trần Văn Huynh       

 9

 9

 7

 9

 8

 6

 9

7.958

Nguyễn Ngọc Hân      

 4

 8

 8

 3

 4

 7

 8

6.250

Nguyễn Thị Hạnh      

 9

10

 9

 9

 8

10

 9

9.167

Đậu Văn Kiên         

10

 8

 5

 5

 5

 8

 8

7.083

Nguyễn Anh Hải Linh  

 6

 8

 4

 7

 5

 8

 9

6.500

Bùi Hồng Linh        

 4

 8

 5

 4

 5

 7

 7

5.708

Nguyễn Thành Luân    

 8

 7

 5

 3

 4

 8

 8

6.333

Vũ Trường Lâm        

 8

 8

 6

 3

 6

 6

 8

6.583

Nguyễn  Hoàng Minh   

 3

 6

 3

 4

 5

 6

 8

4.833

Nguyễn Công Nam      

 0

 0

 0

 0

 0

 0

 0

0.000

Tạ Thị Nga           

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC | Góp ý (0) | Chỉnh sửa | Bản inBản in

SỔ ĐIỂM KỲ II LẦN KHOÁ 43 NĂM HỌC 2008 – 2009

Published on 17:55, 07/08,2009

 

HOTEN

BC

BHN

CNX

GD1

NN4

SL2

SLH

TI1

TL2

TB

Vũ Ngọc Anh          

 7

 6

 5

 5

 4

 7

 8

 7

 4

5.7

Võ Chí Công          

 7

 5

 3

 3

 6

 6

 7

 8

 4

5.4

Nguyễn Thị Thu Doan  

 6

 6

 9

 8

 6

 8

 9

 7

 5

7.1

Dương Thị Phương Dung

 7

 7

 8

 7

 6

 8

 7

 8

 5

7.0

Lê Văn Định          

 7

 6

 5

 5

 6

 6

 8

 6

 4

5.9

Nguyễn Minh Đức      

 7

 7

 8

 8

 9

 9

 7

 8

 7

7.8

Nguyễn Quang Đức     

10

 7

 5

 6

 7

 8

 9

 9

 3

7.1

Nguyễn Đức Dũng      

 6

 7

 2

 6

 7

 7

 7

 6

 3

5.6

Lê Hải Giang         

 7

 6

 3

 5

 4

 7

 8

 6

 4

5.3

Đoàn Thị Kiều Giang  

 8

 9

 6

 8

 7

 9

 9

 7

 6

7.5

Đỗ Văn Hai           

 6

 5

 3

 5

 5

 6

 7

 6

 4

5.1

Đỗ Bá Hoàng          

 6

 5

 5

 7

 6

 6

 7

 9

 5

6.2

Nguyễn Thị Huyền     

 9

 7

 6

 7

 4

 4

 8

 7

 7

6.4

Nguyễn Thị Hà        

 9

 8

 7

 8

 8

 9

 9

 9

 7

8.1

Trần Thị Hồng        

 9

 8

 8

GIÁO VỤ KHOA | Góp ý (0) | Chỉnh sửa | Bản inBản in

THÔNG TIN VỀ GIẢI BỐNG CHUYỀN TRUYỀN THỐNG NHÀ TRƯỜNG

Published on 23:15, 05/22,2009

 

Từ ngày 10/5 - 22/5/2009 giải bóng chuyền năm 2009
đựoc tổ chức tại trường Đại học TDTT Bắc ninh

Sau 2 tuần thi đấu kết quả như sau :

Nam sinh viên : Nhất : Liên chi đoàn Y sinh học TDTT

•-         Nhì : Liên chi đoàn Điền kinh

•-         Liên chi đoàn Quản lý TDTT

•-         Khuyến khích : Liên chi đoàn Thể thao dưới nước.

Nữ sinh viên :

•-         Nhất : Liên chi đoàn điền kinh

•-         Nhì : Liên chi đoàn Vật - Judo

•-         Liên chi đoàn Võ - Quyền anh

•-         Khuyến khích : Liên chi đoàn Bóng bàn

Khối cán bộ giáo viên :

  Nhất : Kối phòng, khoa, ban, Giáo viên lý luận,
Trung tâm Nghiên cứu khoa học - Kỹ thuật

•-         Nhì : Bộ môn điền kinh

•-         Ba: Trung tâm Đào tạo VĐV & Trường năng khiếu TDTT Olimpic

Liên chi đoàn Y sinh học TDTT vô địch giả Bóng chuyền năm 2009

Đến hẹn lại nên giải Bóng chuyền truyền thống của trường ĐH TDTT Bắc ninh lại được tổ chức trái với nhiều dự đoán năm nay Liên chi đoàn Y sinh học TDTT sau nhiêu năn vắng bóng sự xuất hiện đã lập nên kỷ lục vô địch


Đề nghị tăng học phí ĐH lên 230.000đ/tháng

Published on 09:31, 05/14,2009

Dân trí) - Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng GD - ĐT, Nguyễn Thiện Nhân đã đồng ý với quan điểm đề xuất lùi thời gian thực hiện Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục 1 năm. Tuy nhiên, ông đề nghị tăng học phí ĐH năm 2009 lên 230.000đ/tháng.

Chiều 13/5, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã nghe và cho ý kiến về Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục và đào tạo giai đoạn 2008 - 2012.

Trình bày tờ trình về Đề án tại buổi làm việc, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nêu rõ, trong khi nền kinh tế nước ta đã chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN được 20 năm thì cơ chế tài chính của giáo dục và đào tạo thực tế vẫn chưa có thay đổi về chất so với thời kì kinh tế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp.

Cũng theo ông Nhân, chế độ học phí xây dựng từ 11 năm trước chưa thay đổi, trong khi đó từ năm 2000 đến năm 2008, mức giá tiêu dùng bình quân đã tăng 1,62 lần...

6% thu nhập vẫn là cao

Đề án đổi mới cơ chế tài chính lần này của Chính phủ đã đề cập nhiều vấn đề, trong đó vấn đề nhận được nhiều ý kiến nhất là học phí.

Theo Đề án, đối với chương trình đại trà, học phí ở giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông thu theo nguyên tắc chung là học phí và các chi phí học tập cần thiết khác cho việc học tập không vượt quá 6% thu nhập bình quân của hộ gia đình theo từng địa phương (trong một tỉnh có thể có các mức học phí khác nhau).  

"Phản biện" đề xuất này Thường trực UB Văn hoá, Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cho rằng, 6% là mức chi trả khá cao trong nhóm các nước mới phát triển, còn ở các nước phát triển, con số này là từ 2- 10%. Đối với nước ta, nếu lấy 6% sẽ là quá cao vì thực tế thu nhập của các hộ dân hiện nay còn thấp, đa số học sinh, sinh viên là con em các hộ nông dân còn rất nghèo và khó khăn.

Thường trực UB cũng đặt ra các vấn đề xung quanh quan điểm "học phí đối với đào tạo nghề nghiệp từ bậc sơ cấp đến bậc trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học thực hiện theo nguyên tắc chia sẻ chi phí giữa nhà nước và người học, học phí phải đảm bảo bù đắp chi phí tiền lương, từng bước bảo đảm chi thường xuyên tối thiểu của các nhóm ngành tiến tới bảo đảm bù đắp chi phí đào tạo".

Đề án bao gồm khung học phí đại học giai đoạn 2008 - 2012 theo 7 nhóm ngành khác nhau, trong đó nhóm ngành Sư phạm có khung học phí thấp nhất (từ 200.000 - 500.000đ/tháng) và cao nhất là nhóm ngành Y dược (290.000 - 800.000đ/tháng).

Cụ thể, có phải một số năm nữa, người học sẽ không còn hưởng phúc lợi giáo dục từ ngân sách nhà nước? Vấn đề này theo Thường trực UB cần được cân nhắc thận trọng hơn vì ngay ở các nước khác, kể cả những nước "thương mại hoá" giáo dục nghề nghiệp như Hoa Kỳ, nhà nước vẫn gánh vác một tỉ lệ đáng kể trong chi phí đào tạo của các cơ sở đào tạo công lập.

Thường trực UB cũng đánh giá, khung học phí của các chương trình đào tạo, các cấp học, chương trình đào tạo nghề nghiệp trong Đề án có biên độ rất rộng và đề nghị chia thành các mức nhỏ hơn tương ứng với các mức chất lượng khác nhau, đồng thời chỉ cho phép các cơ sở giáo dục đào tạo được thu học phí ở mức tương ứng với chất lượng đã được kiểm định công nhận.

Trong đề án dự kiến đến năm 2012, học phí của khối đào tạo nghề nghiệp bảo đảm 44,7% tổng chi thường xuyên là khá cao so với mặt bằng thu nhập của nhân dân, cần cân nhắc hợp lí để bảo đảm tính khả thi của đề án.

Bù 50% mất giá từ năm 2000 đến nay cho học phí đại học   Chủ nhiệm UB Pháp luật, Nguyễn Văn Thuận cho rằng, Đề án mới chỉ đưa ra một phương án cho vấn đề học phí và đề nghị bổ sung thêm các phương án khác. Chẳng hạn, có thể đưa ra xem xét miễn toàn bộ học phí cho bậc học phổ thông hoặc miễn toàn bộ học phí cho học sinh phổ thông vùng nông thôn.

"Quan điểm của tôi là cần phải bao cấp mạnh mẽ cho giáo dục, y tế", ông Thuận nhấn mạnh. Ông cho biết, quá trình tiếp xúc cử tri tại miền Tây Quảng Nam, các đại biểu nhận thấy, có những nơi đồng bào còn rất khó khăn, lo cho ăn uống đã khó, chưa nói đến chuyện học.

Chủ nhiệm UB Tài chính - Ngân sách Phùng Quốc Hiển cũng đề cập đến phương án miễn học phí cho học sinh THCS ở nông thôn. Thêm nữa, theo ông Hiển, mảng học nghề rất quan trọng, nhất là trong bối cảnh nhiều hộ nông dân bị thu hồi đất nên đề án cần nhấn mạnh đến hỗ trợ học phí cho con em nông dân.

Bà Lê Thị Thu Ba, Chủ nhiệm UB Tư pháp chia sẻ, học sinh lựa chọn Trung học nghề có thể do năng lực học, nhưng chủ yếu do khó khăn về tài chính. Với bậc học này, không thể tính học phí cao như dự thảo, cần có hỗ trợ từ nhà nước nhiều hơn.

Về học phí bậc Đại học, ông Đặng Vũ Minh, Chủ nhiệm UB Khoa học, Công nghệ và Môi trường tán thành việc cần phải tăng, bởi mức học phí 180.000/tháng chỉ bằng 1/3 giá trị so với năm bắt đầu thực hiện (2000). Tuy nhiên, theo ông Minh, nếu tăng ngay sẽ gây sốc nên cần tăng dần trong 3-4 năm.

Trước đó, Thường trực UB Văn hoá, Giáo dục, Thanh Thiếu niên cũng cho rằng, khoảng cách giữa mức học phí hiện hành với khung học phí dự kiến là quá lớn. Bởi vậy, cần thực hiện tăng dần theo từng năm học, mỗi năm chỉ nên tăng khoảng 30 - 40%.   Thường trực UB này cũng đề nghị lùi thời điểm thực hiện đề án sang năm học 2010 thay vì ngay từ năm 2009, do thời gian chuẩn bị từ nay đến đầu năm học 2009 rất gấp. Hơn nữa, năm 2009 vẫn trong thời kì suy giảm kinh tế, đời sống nhân dân còn rất nhiều khó khăn.   Đề xuất này đã được Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng tình để có thêm thời gian chuẩn bị. Tuy nhiên, ông Nhân đề nghị giải pháp quá độ: năm 2009 không điều chỉnh học phí phố thông, nhưng tăng học phí đại học từ 180.000 đồng/ tháng lên 230.000đ/tháng (bằng 50% mức mất giá từ năm 2000 đến nay).

"Chốt" lại buổi thảo luận, Phó Chủ tịch QH Nguyễn Đức Kiên cho rằng, năm 2009, 2010 kinh tế trong nước theo dự báo vẫn còn khó khăn, cần cân nhắc quãng thời gian thực hiện Đề án cho phù hợp. Theo ông Kiên, có thể chọn ra những khâu có thể làm trước để thực hiện.

Với vấn đề học phí, phải tính toán có lộ trình, có nhiều phương án và học phí được điều chỉnh phải gắn với chất lượng đào tạo... Đồng thời, cần duy trì chế độ học bổng, nhất là với các sinh viên nghèo học giỏi.

Ông Kiên đề nghị các cơ quan có trách nhiệm cố gắng hoàn thiện đề án để Quốc hội có thể ra Nghị quyết về vấn đề này tại kì họp tới đây.

Theo : Dân trí


MƯỜI THÓI QUEN " HỦY HOẠI " SỨC KHỎE

Published on 23:28, 05/09,2009

Mặc dù chú trọng dinh dưỡng nhưng vẫn hay ốm vặt. Bạn cho rằng "thể chất" của mình không tốt nhưng trên thực tế, các chứng bệnh "nhỏ nhặt" đó thường là do những tiểu tiết nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày gây ra.

Bạn hãy suy nghĩ xem liệu mình có mắc phải một trong những thói quen "vặt vãnh" sau đây không nhé. Nếu có, hãy điều chỉnh lại nhịp điệu cuộc sống của bạn, tìm ra quy tắc giữ gìn sức khoẻ đúng đắn hơn.

1. Hàng ngày đi một đôi giày không thay

Do chân và các bộ phận khác trong cơ thể chúng ta có thể ra mồ hôi, vì vậy giày sau khi đi một ngày đều trở nên ẩm ướt và ít nhất cần 24 tiếng sau mới có thể hoàn toàn khô ráo, thông thoáng. Mỗi ngày bạn chỉ đi một đôi giày sẽ làm cho chân trong một thời gian dài ở trong trạng thái ẩm ướt, và cũng sẽ dễ sinh ra vi khuẩn gây bệnh.  

Khuyến nghị: Nên chuẩn bị 2 - 3 đôi giày thay đổi. Khi về nhà cần đi dép thông thoáng để cho giày có cơ hội "nghỉ ngơi" sau một ngày "làm việc" mệt mỏi và để cho chân thoáng khí.

2. Mặc quần áo bó sát

Quần áo bó sát giúp "khoe" đường cong hoàn mỹ của cơ thể nhưng nếu vẫn mặc bộ cũ khi cơ thể đã lên "size" thì sẽ dễ xuất hiện tình trạng chèn ép các cơ quan nội tạng, gây ra đau bụng, chướng bụng, tăng thêm gánh nặng cho tim, từ đó gây ra cảm giác mệt mỏi và không thoải mái.

Nếu mặc quần quá chật sẽ làm cho vị toan chạy ngược trở lại. Vị toan chảy ngược sẽ kích thích thực quản, gây ra tức ngực, đau ngực. Đồng thời, mặc quần bó sát trong thời gian dài không có lợi cho việc vận hành đào thải khí thể trong cơ thể, gây ra chướng bụng, và các triệu chứng được gọi là "không thông gây ra đau".

Khuyến nghị: Ngoài mục đích giảm béo, bạn nên mua sắm cho mình những bộ quần áo rộng rãi thoáng mát để thay thế với những bộ quần áo bó sát.

3. Giặt quần áo tiết kiệm nước

Mặc dù tiết kiệm nước là một hành động bảo vệ môi trường rất tốt nhưng nếu khi giặt quần áo quá tiết kiệm nước, không gột hết bột giặt và chất bẩn trên quần áo sẽ dẫn tới các bệnh về da.

Khuyến nghị: khi giặt quần áo, nên dùng nước thì dùng nước, phải giặt sạch hết các chất bẩn và xà phòng trên quần áo, đừng nên "nhắm mắt" tiết kiệm nước để gây nguy hại cho sức khoẻ của bạn.

4. Xách đồ quá nặng

Xã hội hiện đại ngày nay "nam nữ bình đẳng" trong tất cả mọi thứ, những việc lao động chân tay nặng nhọc trước đây chỉ dành cho nam giới bây giờ phụ nữ yếu ớt cũng có thể đảm nhận được. Nhưng chị em phụ nữ đừng nên "gánh vác trách nhiệm" mà không chú ý đến sức lực của mình, đi làm những việc vượt quá khả năng chịu đựng của cơ thể.

Các bác sỹ cho biết rất nhiều trường hợp gãy xương, trật xương thậm chí sái hàm đều do gánh, xách vác đồ quá nặng gây ra.

Khuyến nghị: Đừng nên "đày đọa" cơ thể. Những đồ vật quá nặng không xách được thì không nên xách. Khi xách, vác đồ vật nặng thì cố gắng hết sức để cho vật nặng gần với cơ thể.

5. Đi chân trần khi thức giấc

Rất nhiều bệnh về chân xuất phát từ đây. Mỗi ngày  chân chúng ta phải "chịu đựng" trọng lượng nặng của toàn bộ cơ thể, vì vậy hàng ngày đều có một số bộ phận trên chân chịu tổn thương ở một mức độ nhất định. Những tổn thương này đều cần thông qua thời gian nghỉ ngơi buổi tối để phục hồi. Nếu buổi sáng thức dậy đi chân trần, sẽ tăng thêm gánh nặng của gót chân, những "tổ chức" vừa được khôi phục vào ban đêm cũng vì đó mà thêm một lần nữa bị tổn thương và tổn thương nặng thêm.

Khuyến nghị: Buổi sáng ngủ dậy hoặc buổi tối khi ở nhà nên đi dép đế bằng.

6. Kẹp tai nghe ở vai để nghe điện thoại

Động tác này rất dễ gây ra đau cơ bắp phần cổ và lưng. Để tránh tai nghe bị trơn tuột, nhiều người rất "tự nhiên" kẹp chặt ống nghe, điều này sẽ làm tăng thêm gánh nặng cơ bắp phần cổ và lưng. Hơn nưa, cơ bắp giữa cổ và lưng trong thời gian dài chịu "căng thẳng" sẽ xuất hiện hiện tượng co rút cơ bắp.

Động tác "tụ nhiên" này còn có thể gây ra các bệnh nặng hơn. Một người bệnh ở Pháp do thời gian dài kẹp điện thoại giữa cằm và vai để nghe đã bịa mù mắt trái và nói chuyện cũng gặp nhiều khó khăn.

Khuyến nghị: Khi nghe điện thoại bạn nên sử dụng tai nghe, dùng chế độ không cần nhấc máy hoặc giữ tư thế ngồi đúng.

7. Tuỳ tiện gục đầu ngủ

Do công việc bận rộn, hoặc do điều kiện hạn chế, rất nhiều người "bạ đâu ngủ đấy". Trên ghế, trên xe, bất cứ chỗ nào tiện lợi là có thể gục đầu xuống ngủ được ngay.

Ngủ là một quá trình khôi phục thể lực, tiêu trừ mệt mỏi. Nếu không để cho cơ thể thư giãnmột cách thoải mái, đầy đủ, ngủ sẽ không thể phát huy tác dụng vốn có của nó, mà còn có thể gây ra nhức mỏi thậm chí tê mỏi cơ bắp.

Khuyến nghị: Bạn nên tránh ngủ ở nơi không phải là giường. Nếu điều kiện thực sự không có thì nên ngủ một lúc rồi dậy một lúc, như thế cũng tốt hơn là ngủ ở một nơi không thoải mái.

8. Không rửa bàn chải đánh răng

Bàn chải đánh răng cần phải rửa sao? Đúng như thế. Bàn chải đánh răng mỗi ngày đều đến "tham quan" miệng của chúng ta 1 - 2 lần, đương nhiên không nên xem nhẹ vệ sinh của nó. Trên thực tế, khi bàn chải đánh răng "rửa" khoang miệng cho chúng ta, sẽ lây nhiễm các loại chất bẩn bao gồm vi khuẩn, thêm vào đó là bàn chải đánh răng ở trong môi trường vệ sinh ẩm ướt, vi khuẩn càng dễ sinh trưởng. Một nghiên cứu cho thấy bàn chải đánh răng sau khi sử dụng 15 ngày, nếu không "tắm rửa" cho nó sẽ sinh ra vi khuẩn.

Khuyến nghị: Sau khi đánh răng cần phải rửa sạch bàn chải, đặc biệt chú ý rửa sạch thức ăn và kem đánh răng còn lưu lại bên trên. Người vừa hết bệnh cảm nhất định phải nhớ thay bàn chải đánh răng mới.

9. Ngồi "bất động" trên máy bay

Thời gian dài ngồi "giữ ghế" sẽ tăng thêm áp lực cho cơ khớp chân và phần lưng, thậm chí sẽ gây ra tụ máu, máu vón cục. Ngồi lâu "bất động" ở trên máy bay lại càng nguy hiểm. Sức hút của quả đất làm cho huyết dịch chảy vào tim nhưng trên máy bay, lực hút của trái đất yếu đi rõ rệt, máu dễ chảy vào phần phổi. Nếu bị hiện tượng máu vón cục thì sẽ có thể dẫn tới chết người do tắc nghẽn phổi.

Khuyến nghị: Khi ngồi trên máy bay, không nên ngồi yên một chỗ, nên đứng dậy đi lại vận động.

10. Thời gian dài không chớp mắt

Đây là thói quen phổ biến ở "dân" văn phòng, thường xuyên tiếp xúc với máy tính, mắt chỉ nhìn chăm chăm vào màn hình máy tính, cả mấy phút liền cũng không chớp mắt. Điều này có thể gây ra hội chứng ở mắt do máy tính như hay chảy nước mắt, thị lực sút giảm, cảm giác không thoải mái khi đeo kính áp tròng...

Khuyến nghị: Mắt nhìn trong một thời gian ngắn cần phải chú ý nghỉ ngơi, chớp chớp mắt là cách đơn giản và hữu hiệu nhất.

Theo Dân Trí


KHẮC PHỤC CHỨNG NGẠT MŨI

Published on 23:25, 05/09,2009

Thời tiết chuyển mùa, thoắt nắng thoắt mưa, trẻ em, người có cơ địa dị ứng với thời tiết thường dễ ngạt mũi. Chưa hẳn là ốm để dùng thuốc, nhưng sự ngạt mũi, khó thở gây nên không ít khó chịu.
Người thường xuyên có triệu chứng ngạt mũi khó thở khi thay đổi thời tiết càng phải để ý giữ ấm khi chuyển mùa. Đôi khi cả mùa đông lạnh không có vấn đề gì, nhưng lúc chuyển mùa lại dễ bắt đầu từ ngạt mũi mà chuyển sang ốm thực sự.

Theo GS Hoàng Bảo Châu, nguyên viện trưởng Viện Y học cổ truyền TW, ngạt là do hàn, hàn khiến các mạch co lại. Người bị ngạt mũi thường chảy nước mũi, có phù nề và chính sự phù nề gây ngạt. Cách chữa trị là phải làm cho ấm lên. Biện pháp đơn giản là day, ấn huyệt nghinh hương (huyệt ở 2 bên cánh mũi). Ngoài ra có thể dùng dầu, cao sao vàng bôi ở chóp mũi để làm ấm đường thở, ngậm một lát gừng mỏng.

Người bị dị ứng thời tiết là do vệ khí kém, vì thế dễ ngạt mũi, khó thở dù chỉ gặp vài hạt mưa hay bị chút gió lạnh. Nếu không kèm theo sốt thì không cần dùng thuốc, đôi khi chỉ một cốc bạc hà nóng cũng có tác dụng tốt.

Với trẻ em, không được dùng cao sao vàng mà chỉ day ấn huyệt, giữ ấm cổ và chân, cho ăn đồ ấm nóng, hạn chế cho ra đường, giữ bé trong phòng kín gió. Ở người lớn, khi vừa bị lạnh, nhất là khi vừa đi mưa về, nên lau rửa người bằng nước ấm, ngâm chân tay vào nước ấm để làm nóng người.

Để hạn chế chứng ngạt mũi, theo GS Trần Hữu Tuân, nguyên Viện trưởng Viện Tai mũi họng TW, nhất thiết phải giữ ấm chân và cổ, luôn mang dự phòng áo ấm vào thời điểm thời tiết chuyển mùa, lúc nóng lúc lạnh. Khi có triệu chứng ngạt mũi, nên dùng nước muối sinh lý nhỏ để làm sạch đường thở.

Ở trẻ em, nếu có mũi nhày đặc, nên dùng ống nhựa nhỏ (có bán ở các cơ sở y tế, hiệu thuốc) để hút. Nếu trẻ ngạt mũi có kèm theo sốt, biếng ăn, quấy khóc thì mới nên đưa đến viện (điều này để tránh việc lây bệnh từ bệnh viện, bởi nhiều trẻ chỉ ngạt mũi thông thường, nhưng đưa đến viện lại mắc thêm bệnh lây nhiễm nào đó). Nếu ngạt mũi thông thường, nên tự xử lý tại nhà và không được tự ý dùng bất cứ loại thuốc nào, trừ việc nhỏ nước muối sinh lý. Nếu trẻ ngạt mũi kèm theo có mùi hôi thối trong dịch mũi, cần nghĩ đến khả năng có dị vật đường thở, lúc này cần đưa đến bệnh viện gần nhất để soi và bác sĩ sẽ có cách xử lý thích hợp.

Theo các chuyên gia, ngạt mũi không phải là một bệnh, thường chỉ là triệu chứng phản ứng với thời tiết. Nhưng nếu không để tâm chú ý, ngạt mũi sẽ kéo dài gây mất ngủ, khó chịu. Trẻ ngạt mũi dễ quấy khóc, biếng ăn, sụt cân nếu ngạt mũi kéo dài. Khi ngạt mũi, trẻ buộc phải há miệng để thở, điều này dễ gây viêm phổi, cảm lạnh. Bắt đầu từ triệu chứng nhỏ, nếu quan tâm dập tắt bằng những cách đơn giản, thông thường thì sẽ hạn chế được sự tiến triển thành bệnh, tránh được việc dùng thuốc.

Một số trường hợp ngạt mũi là do có khối u. Do đó nếu triệu chứng ngạt mũi không phải bắt đầu bằng việc bị lạnh, sự khó thở tăng dần... thì cần nghĩ đến khả năng này và đi đến viện.

Theo 24H


Rối loạn mỡ máu

Published on 23:22, 05/09,2009

Thuốc lá là yếu tố góp phần làm thúc đẩy quá trình xơ mỡ động mạch và làm tăng cholesterol gây hại

Rối loạn mỡ trong máu hay còn gọi là tăng mỡ trong máu hay tăng cholesterol máu là bệnh khá phổ biến hiện nay. Bệnh là mối lo ngại của nhiều người có tình trạng cân nặng dư thừa nhưng thực tế nhiều người gầy vẫn bị rối loạn mỡ trong máu. Rối loạn mỡ trong máu là nguy cơ chính của nhiều bệnh nguy hiểm như xơ mỡ động mạch, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, cao huyết áp...

Không ăn mỡ, trứng vẫn mắc bệnh

Rối loạn mỡ trong máu là bệnh lý có tăng thành phần mỡ gây hại và hoặc giảm thành phần mỡ bảo vệ cho cơ thể. Mỡ trong máu hiện diện dưới 2 dạng chính là cholesterol và triglycerid. Cholesterol không phải là chất hoàn toàn gây hại cho cơ thể. Cholesterol là thành phần cấu tạo chủ yếu của màng tế bào, sợi thần kinh và của nhiều nội tiết tố trong cơ thể. Gan còn dùng cholesterol để sản xuất ra acid mật giúp tiêu hóa thức ăn.


Nên chọn thức ăn ít dầu mỡ và cholesterol để hạn chế tình trạng rối loạn mỡ trong máu. Ảnh: C.T.V


Cholesterol có nguồn gốc từ thức ăn hằng ngày trong thịt, mỡ, trứng... chiếm 20% nhu cầu cholesterol trong cơ thể và do gan tạo ra chiếm đến 80%. Gan có khả năng tổng hợp cholesterol từ những chất khác như đường, đạm. Điều này lý giải tại sao nhiều người không ăn mỡ, trứng như những người ăn chay trường lâu năm hoặc những người gầy vẫn bị rối loạn mỡ trong máu.


Cholesterol gây hại khi chúng thấm vào thành mạch máu hình  thành mảng xơ mỡ động mạch. Còn cholesterol có lợi khi chúng chống lại quá trình xơ mỡ động mạch bằng cách mang cholesterol dư thừa ứ đọng từ trong thành mạch máu trở về gan. Cho nên nói tăng cholesterol hay tăng mỡ trong máu là không chính xác mà phải gọi là rối loạn mỡ trong máu vì đôi khi không có tăng thành phần gây hại nhưng có giảm thành phần bảo vệ thì vẫn gọi là rối loạn mỡ trong máu.


Thay đổi lối sống


Theo Tổ chức Y tế Thế giới, giải quyết được rối loạn mỡ trong máu là cần thiết để hạn chế tai biến mạch vành tim, mạch máu não và giảm tỉ lệ tử vong do biến chứng mạch máu.


Lưu ý khi dùng thuốc

Sau khi áp dụng chế độ điều trị không dùng thuốc trong 3 đến 6 tháng mà vẫn không cải thiện được tình trạng rối loạn mỡ trong máu đặc biệt là cholesterol có hại còn cao thì bác sĩ sẽ cho dùng thêm thuốc hạ mỡ trong máu. Thuốc phải được dùng dưới sự chỉ định và theo dõi của bác sĩ, vì thuốc ngoài tác dụng hạ mỡ trong máu còn gây nhiều tác dụng phụ khác.
Điều trị không dùng thuốc có tác dụng như phòng ngừa rối loạn mỡ trong máu, nếu thực hiện tốt có thể giảm được 15% - 20% cholesterol toàn phần. Nên ngừng hút thuốc lá, không uống quá nhiều rượu, thay đổi thói quen ăn uống, tập thể dục thể thao. Trong đó, ngừng hút thuốc lá là việc làm cần thiết quan trọng với bệnh nhân rối loạn mỡ trong máu. Thuốc lá là yếu tố góp phần làm thúc đẩy quá trình xơ mỡ động mạch và làm tăng cholesterol gây hại.


Nếu bị béo phì hay dư cân nặng cần thiết phải giảm cân. Nên giới hạn ăn tất cả các loại chất béo. Nếu không kiêng được tuyệt đối thì đừng ăn quá 1/3 mỡ bão hòa trong nhu cầu chất béo hằng ngày. Tránh ăn các loại thức ăn có nhiều cholesterol như sữa toàn phần, kem, trứng, phủ tạng động vật như gan, lưỡi, thận...


Ngoài việc kiêng cữ trong ăn uống thì việc tập thể dục thể thao sẽ góp phần tăng tác dụng của việc kiêng ăn. Tập thể dục thể thao nhịp nhàng dưới các hình thức đi bộ, chạy bộ, đạp xe đạp... ở mức độ không gắng sức là phù hợp. Tập đủ thời gian và thường xuyên, mỗi lần tập cố gắng đủ 30-45 phút và ít nhất tập thường xuyên 4 lần trong một tuần. Nếu bị béo phì, dư cân nặng và không tập thể dục nhiều năm thì nên quyết tâm tập luyện, lúc đầu tập ít sau tăng dần cố gắng tập đều đặn.

Lúc đầu có thể thấy mệt, buồn ngủ vào buổi sáng sau khi tập nhưng sẽ quen dần và thấy khỏe hơn. Duy trì và phát triển vận động, cố gắng xây dựng thời khóa biểu tập thể dục thể thao. Nên xem đó như là một thú vui. Nên tham gia chương trình tập thể dục thể thao theo nhóm.

[b]Theo HNM[/b]


Một số hình ảnh về đốt sống cổ

Published on 10:48, 04/27,2009


Sự phát triển

Published on 10:44, 04/27,2009


Chứng sơ vữa động mạch

Published on 10:37, 04/27,2009


Bài hát Rino Gaetano - Gianna - Live Sanremo 1978 ( nhạc hiệu 360 độ thể thao )

Published on 10:29, 04/27,2009


Phương pháp sử dụng tài liệu

Published on 08:32, 04/21,2009

Lý luận về ph­ương pháp hướng dẫn sử dụng tài liệu học tập.
I. Quan niệm về tài liệu học tập
          Một trong những công cụ không thể thiếu để phục vụ cho quá trình tự học đó chính là tài liệu học tập. Việc sử dụng tài liệu học tập giữ một vị trí đáng kể trong việc nắm vững kiến thức nói chung và phát huy tính tích cực hoạt động trí tuệ của học sinh nói riêng.
         Tài liệu học tập đ­ược chia ra thành nhiều loại tuỳ theo tính chất hay chức năng riêng biệt của nó. Thông thường, đối với sinh viên, có những loại tài liệu học tập sau đây:
1. Giáo trình: Là những tài liệu học tập cơ bản, chung, chính thống, bắt buộc đối với mọi sinh viên khi học tập môn đó.
2. Tài liệu tham khảo, đọc thêm: Là những tài liệu cần thiết để bổ xung, đào sâu, mở rộng tri thức cho từng bài học, từng ch­ương hay từng học phần trong mỗi môn học nhất định. Có những tài liệu tham khảo là bắt buộc sinh viên phải có, như­ng cũng có những tài liệu tham khảo chỉ cần khi sinh viên có nhu cầu. Thông thường, những tài liệu tham khảo này đư­ợc cán bộ giảng dạy giới thiệu, yêu cầu.
3. Tài liệu hướng dẫn học tập: Là những tài liệu có chức năng h­ướng dẫn học tập, ôn tập hay rèn luyện kỹ năng, tự học, tự thực hành, như đề cương bài giảng, đáp án ngân hàng câu hỏi của các môn học ...
4. Sách tra cứu: Là những tài liệu dùng để tra cứu khi cần thiết như­ Từ điển, danh mục, các bảng thống kê.
5. Tạp chí chuyên ngành: Là những tài liệu khoa học dùng để tham khảo hay nghiên cứu, như thông tin khoa học kỹ thuật TDTT của viện KHTDTT.
6. Sách nghiên cứu: Là những công trình khoa học hay chuyên khảo dùng cho sinh viên khi nghiên cứu khoa học.
7. Tài liệu điện tử: Là những thông tin, kiến thức về mọi mặt th­ường xuyên được cập nhật trên mạng dành cho mọi đối tượng trong mọi lĩnh vực.
          Tuỳ theo từng đối tượng , mục tiêu và nội dung mà xác định loại tài liệu học tập cần thiết cho quá trình học tập. Giáo trình là tài liệu quan trọng nhất nhằm cụ thể hoá nội dung chư­ơng trình môn học thông qua hệ thống các bài học. Đối với sinh viên, giáo trình không những cung cấp những kiến thức chuẩn mực, cơ bản và cần thiết, mà còn góp phần hư­ớng dẫn phương pháp học tập, củng cố những kiến thức đã học, tạo điều kiện phát triển các kĩ năng đã được hình thành, đồng thời cũng là cơ sở, nền tảng để cho sinh viên ôn tập và thi cử. Đối với giáo viên, giáo trình là tài liệu thể hiện khối lư­ợng và mức độ nội dung kiến thức cần giảng dạy, nó là cơ sở và hành lang pháp lý để giáo viên trong quá trình dạy học không đi chệch hướng với nội dung và mục tiêu đề ra, đồng thời góp phần hướng dẫn nghiệp vụ sư­ phạm cho giáo viên. Ngoài ra, trong quá trình học tập, giáo viên có thể hướng dẫn sinh viên tìm đọc thêm tài liệu tham khảo hay tài liệu hư­ớng dẫn học tập khi các em làm tiểu luận, ximêna hay thi tốt nghiệp.
II. Hướng dẫn sử dụng tài liệu học tập với tư cách là một phương pháp dạy học.
           Quá trình dạy học bao gồm hai hoạt động cơ bản:
•-         Hoạt động dạy: là hoạt động tổ chức, điều khiển của giáo viên.
•-         Hoạt động học: là hoạt động tự tổ chức, tự điều khiển của sinh viên.
Trong đó, giáo viên phải có cách thức dạy và sinh viên phải có cách thức học. Các cách thức dạy của thầy và học của trò tập hợp thành các ph­ương pháp dạy học nhằm giúp cho thày trò hoàn thành được các nhiệm vụ dạy học phù hợp với mục đích đề ra.
       Vì vậy, có thể hiểu: phư­ơng pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động của giáo viên và sinh viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học. Có rất nhiều phư­ơng pháp dạy học khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích, nội dung và đối tượng dạy học như­ phư­ơng pháp thuyết trình: dạy học nêu vấn đề, phương pháp trực quan, vấn đáp - đàm thoại.... Từ những năm năm mư­ơi của thế kỷ XX, cùng với xu hướng cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học trong quá trình dạy học hiện đại, nhiều phư­ơng pháp dạy học mới đã ra đời nhằm tích cực hoá, cá biệt hoá hoạt động học tập của ng­ười học đáp ứng cao yêu cầu của đời sống xã hội như: ph­ương pháp hoạt động nhóm, phương pháp đóng vai, phư­ơng pháp động não......và phư­ơng pháp hư­ớng dẫn sử dụng tài liệu học tập.
Trên thế giới, vấn đề sử dụng sách giáo khoa và tài liệu học tập được đặt ra từ rất lâu. ở Liên Xô cũ, ngay từ những năm 1920, công tác tổ chức hoạt động độc lập của học sinh với sách giáo khoa trong giảng dạy DTT  đư­ợc đề cập đến. Đến năm 1956 - 1957, quyết định dùng sách giáo khoa đã xâm nhập vào lý luận dạy học đại cương và lý luận dạy học bộ môn nhưng khi sử dụng vẫn còn hạn chế. Theo nhà khoa học Liên Xô (cũ) E. I. Gô - Lan thì ông cho rằng: "Việc nghiên cứu sách giáo khoa một cách cơ bản ở các lớp đựơc tiến hành không phải trong giờ lên lớp mà trong quá trình chuẩn bị các bài tập ở nhà" .
 I. A. Cai - rôp chỉ mới đề cập đến một số hình thức sử dụng sách giáo khoa trong giờ lên lớp mà chư­a phải là một hình thức cơ bản, ông cho rằng nếu tài liệu và sách giáo khoa quá khó hiểu thì giáo viên cùng học sinh tìm ra dàn ý của đoạn đó và nên tiến hành dùng sách giáo khoa ở những phần naò khó tiếp thu của bài học;
B. P. Exipop đã l­ưu ý giáo viên sử dụng sách giáo khoa để phát huy tính tích cực tự lực của học sinh. Tác giả cũng đề cập đến yêu cầu để làm việc với sách giáo khoa "Đòi hỏi một sự kết hợp đúng đắn giữa sự chỉ đạo của giáo viên và tính tự lập của học sinh"
ở Việt Nam, vấn đề sử dụng tài liệu như­ một phư­ơng pháp trong dạy học rất ít được đề cập đến. Nhưng để nói về vai trò, vị trí quan trọng của sách, tài liệu  trong giáo dục nhận thức thì cũng đã đ­ược bàn đến nhiều.
Trong cuốn "Giáo dục học tập 1", tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt đã trình bày ý nghĩa của việc dùng sách: "Nếu được sử dụng đúng phương pháp, sách sẽ có tác dụng lớn như: mở rộng, đào sâu vốn hiểu biết của mình một cách có hệ thống và sinh động; rèn luyện kỹ năng, thói quen sử dụng sách, bồi dưỡng ngữ pháp, kinh nghiệm viết văn, óc nhận xét, phê phán; bồi dưỡng hứng thú học tập, tình cảm và tư tưởng trong sáng" Hai tác giả cũng đã hư­ớng dẫn việc dùng sách ở trên lớp, việc dùng sách ở nhà và một số yêu cầu cơ bản về phư­ơng pháp sử dụng sách giáo khoa.
Trong nghị quyết của Bộ chính trị về cải cách giáo dục ngày 11-1-1979 đã bàn đến vấn đề hư­ớng dẫn sử dụng tài liệu học tập cho học sinh trong dạy học: "Cần coi trọng việc bồi dưỡng hứng thú, thói quen và ph­ương pháp tự học cho học sinh, hướng dẫn học sinh biết cách nghiên cứu sách giáo khoa, thảo luận chuyên đề, ghi chép tư liệu, tập làm thực nghiệm khoa học".
Tuy nhiên, phần lớn những ý kiến của các nhà khoa học mới chỉ dừng lại ở vấn đề bàn và trao đổi việc sử dụng sách giáo khoa ở tr­ường phổ thông, còn đối với sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp, việc HDSDTL học tập trong nhà trư­ờng vẫn bị lãng quên mà không đư­ợc giáo viên đưa vào giảng dạy như­ là một phư­ơng pháp dạy học.
          Căn cứ vào lý luận dạy học đại học, có thể khẳng định HDSDTL học tập là một trong những phư­ơng pháp dạy học vì nó mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản của một phư­ơng pháp dạy học như:
- Thứ nhất, ph­ương pháp HDSDTL học tập gắn liền với mục đích đào tạo nghề nghiệp cho sinh viên ở các trư­ờng. Thông qua quá trình tìm tòi, đọc và nghiên cứu những tài liệu chuyên ngành mà sinh viên có thể hình dung đ­ợc công việc mà mình làm sau này như­ thế nào. Trên cơ sở đó các em có cách tiếp cận dần với công việc chuyên môn của mình d­ới nhiều góc độ nh­ : làm thêm, thu thập thông tin, tài liệu đề cập đến chuyên môn của mình, qua đó sẽ tìm hiểu đ­ợc xu hướng phát triển của lĩnh vực đó trong xã hội nh­ ra sao?...Như vậy, với ph­ương pháp HDSDTL học tập, bên cạnh việc góp phần trang bị cho sinh viên có một trình độ chuyên môn nhất định , còn rèn luyện cho sinh viên có kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp để họ có thể thích ứng với mọi điều kiện công việc sau này nhằm hoàn thành mục tiêu đào tạo của nhà tư­ờng.
- Thứ hai, phư­ơng pháp HDSDTL học tập là một phương pháp dạy học gắn liền với thực tiễn cuộc sống xã hội và sự phát triển của khoa học - công nghệ. Để có thể thực hiện đ­ợc yêu cầu của phương pháp này, sinh viên phải th­ờng xuyên tìm kiếm thông tin tri thức chuẩn bị cho bài học: thông tin này có thể ở trên th­ viện, ở trong sách báo tạp chí chuyên ngành hay có thể trong thực tiễn đời sống xã hội, mà cũng có thể sinh viên lên mạng tìm kiếm thông tin, trao đổi với nhau trên mạng. Mục đích của các tr­ờng Đại học là đào tạo nghề, cho nên bao giờ cũng có mối liên hệ biện chứng giữa nhà tr­ờng với thực tế cuộc sống. Mục tiêu của nhà tr­ờng không thể tách rời với đời sống xã hội và sự phát triển của khoa học - công nghệ, nếu không sản phẩm của nhà tr­ờng sẽ bị lạc hậu, không đáp ứng đ­ợc yêu cầu của sự phát triển. Cho nên, trong quá trình áp dụng ph­ơng pháp HDSDTL học tập để dạy học, người giáo viên phải luôn bám sát yêu cầu của thực tiễn kinh tế - xã hội để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo ở Đại học.
- Thứ ba, phương pháp HDSDTL học tập là một phương pháp dạy học có tác dụng phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên. Với ph­ương pháp HDSDTL học tập, sinh viên được phát huy hết năng lực nhận thức, kích thích được tính khát khao tìm tòi, sáng tạo những cái mới, độc lập, tự chủ trong việc lĩnh hội tri thức thông qua giáo trình tài liệu học tập. Còn giáo viên đóng vai trò là người dẫn dắt, chỉ đường cho sinh viên biết tìm kiếm tri thức đó ở trong sách nào, tài liệu nào, trên th­ư viện hay lên mạng, sau đó tổ chức và điều khiển để sinh viên tự mình khám phá và chiếm lĩnh tri thức khoa học đó từ trong giáo trình tài liệu.
- Thứ t­ư,  phư­ơng pháp HDSDTL học tập là một phư­ơng pháp dạy học linh hoạt, đa dạng. Ph­ương pháp này có thể áp dụng và phù hợp cho tất cả các tr­ường Đại học, Cao đẳng và THCN, nó cũng có thể phù hợp với đặc điểm tri thức của tất cả các môn khoa học khác nhau nhất là đối với các môn xã hội. Bất cứ giáo viên nào cũng có thể vận dụng một cách linh hoạt ph­ương pháp HDSDTL học tập trong quá trình dạy học của mình.
- Thứ năm, ph­ương pháp HDSDTL học tập là một ph­ơng pháp dạy học ngày càng gắn liền với các thiết bị và các ph­ơng tiện dạy học hiện đại. Đặc điểm này biểu hiện mối quan hệ hữu cơ giữa ph­ơng pháp và ph­ơng tiện dạy học. Trong quá trình vận dụng ph­ơng pháp này, ng­ời giáo viên có thể sử dụng linh hoạt các ph­ơng tiện dạy học hiện đại nh­: thiết kế giáo án điện tử Powerpoint theo ph­ơng pháp HDSDTL học tập; h­ớng dẫn sinh viên khai thác tài liệu học tập, thông tin tri thức liên quan đến nội dung bài học ở trên mạng...
Trong quá trình dạy học, các đặc điểm này đ­ược thể hiện một cách linh hoạt, sáng tạo tuỳ vào đặc điểm, nhiệm vụ, mục đích và đối tư­ợng đào tạo của từng tr­ường. Ng­ười học phải sử dụng tài liệu học tập th­ường xuyên để phục vụ cho quá trình học tập với nhiều nhiệm vụ nhận thức khác nhau qua nhiều giai đoạn nhận thức khác nhau. Việc sử dụng tài liệu học tập có thể thực hiện tr­ước, trong và sau mỗi bài học có sự h­ướng dẫn, dẫn dắt của ng­ời thầy. Trên cơ sở xác định mục tiêu, nội dung, đối t­ượng và phư­ơng pháp dạy học mà ng­ười thầy có kế hoạch cụ thể trong việc yêu cầu ng­ười học sử dụng tài liệu học tập phục vụ cho qúa trình dạy học.
Mặc dù bản thân việc HDSDTL học tập đã mang đầy đủ đặc điểm của một ph­ương pháp dạy học, nh­ng nếu như­ giáo viên không biết cách phát huy những ư­u điểm của ph­ương pháp này thì cũng không đạt đ­ược hiệu quả dạy học. Cho nên, để sử dụng tài liệu học tập đạt kết quả cao, ngư­ời thầy cần phải đề ra những nhiệm vụ học tập cho sinh viên:
- Nhiệm vụ tr­ước mỗi bài giảng: giáo viên cần phải chỉ rõ những tài liệu mà ng­ười học cần tìm đọc là những tài liệu nào? ở đâu? trong tài liệu đó thì cần phải đọc chỗ nào và ghi chép ra sao? Đồng thời, giáo viên cũng phải nêu ra vấn đề mà sinh viên cần chuẩn bị tr­ớc thông qua những câu hỏi gợi mở, hay những bài tập... để yêu cầu ngư­ời học phải chuẩn bị trư­ớc khi buổi học diễn ra. Chính nhờ có quá trình chuẩn bị tài liệu tr­ước cho nên ng­ời học hoàn toàn chủ động thực hiện nhiệm vụ của mình trong suốt buổi học.
- Trong mỗi bài học: lúc này, ngư­ời học phải thể hiện những gì mà mình đã đọc, đã nghiên cứu những tài liệu đó như­ thế nào thông qua hình thức trình bày hiểu biết của mình về vấn đề đó tr­ớc tập thể lớp, rồi trao đổi, tranh luận với nhau để cùng giải quyết vấn đề. Và như­ vậy, người học hoàn toàn đ­ược chủ động trong suốt buổi học.
- Sau mỗi bài giảng: giáo viên yêu cầu sinh viên về nhà tiếp tục đọc phần nào mà trên lớp ch­a thực hiện xong, giáo viên giới thiệu thêm một vài tài liệu tham khảo yêu cầu sinh viên nghiên cứu đọc thêm để mở rộng kiến thức đồng thời cũng phải đ­a ra những câu hỏi để kiểm tra khả năng tự đọc, tự nghiên cứu của sinh viên ở nhà nh­ư thế nào.
Việc sử dụng tài liệu học tập của sinh viên nhằm mục tiêu lĩnh hội tri thức một cách đầy đủ nhất, nhanh nhất. Tuy nhiên, khi áp dụng ph­ương pháp HDSDTL học tập đối với từng nội dung tri thức đòi hỏi giáo viên lại phải có cách HDSDTL học tập khác nhau cho phù hợp với việc học tập một khái niệm, một vấn đề, liên kết các vấn đề hay trong mở rộng một vấn đề để có hiệu quả nhất. Ng­ười thầy có thể h­ớng dẫn cho sinh viên những thao tác cần thiết trong việc đọc tài liệu như­ thế nào, rồi trong quá trình đọc cách ghi chép tri thức lĩnh hội được như­ thế nào cho có hiệu quả nhất và khoa học nhất, hay hướng dẫn cho sinh viên kỹ năng t­ư duy nhận thức trong suốt quá trình nghiên cứu tài liệu...


NGÂN HÀNG CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN MÔN HỒI PHỤCTDTT ( Dành cho SV Trường DH TDTTBN )

Published on 18:51, 04/20,2009

 

Câu1: Khái niệm về hồi phục (khái niệm hồi phục,sự hồi phục,trạng thái,quá trình,giai đoạn hồi phục),bản chất, đặc điểm và phân loại quá trình hồi phục.

Câu 2.Trình bày các quy luật diễn biến các quá trình hồi phục chức năng cơ thể vận động viên trong tập luyện và thi đấu TDTT .

Câu 3. Trình bày các giai đoạn của quá trình hồi phục

Câu 4. Trình bầy các quy luật chung của quá trình hồi phục các chức năng ?cho vị dụ thực tế trong hoạt động môn TT chuyên sâu

Câu 5. Diễn biến quá trình hồi phục cơ thể VĐV khi thực hiện các lượng vận động thể lực có các tính chất khác nhau.Có các đặc điểm sau:

Câu 6.Khái niệm mệt mỏi ( theo quan điểm xh,tâm lý,y sinh và kết luận)Hiện nay, tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về mệt mỏi tuỳ theo các khía cạnh khác nhau (sinh lý, tâm lý, xã hội ).

Câu 7.Cơ chế của mệt mỏi trong lao động thể lực và hoạt động TDTT ở các vùng cường độ khác nhau.

Câu 8. Đặc điểm mệt mỏi trong các vùng cường độ khác nhau, trong quá trình thực hiện các bài tập thể lực? Phương pháp lựa chọn bài tập thúc đẩy quá trình hồi phục mệt mỏi đó ?

Câu 9. Các nguyên tắc chung sử dụng các phương pháp hồi phục trong thể thao.

Câu 10. Phân loại các phương pháp hồi phục ? Hãy vẽ sơ đồ đồ tổng quát các phương pháp hồi phục sức khỏe cho VĐV ?

Câu 11. Các phương pháp hồi phục sư phạm

Câu 12. Các phương pháp hồi phục tâm lý

Câu 13. Các phương pháp hồi phục y - sinh học

Câu 14. Các nguyên tắc chung của sử dụng các phương tiện hồi phục.

phục trong huấn luyện TT?

Câu 15.Các yếu tố quy định sự sử dụng các phương tiện và phương pháp hồi

Câu 16. Khái niệm xoa bóp hồi phục trong thể thao? Trình bày sơ đồ tác dụng chính của xoa bóp hồi phục.         

Câu 17.  Tác dụng xoa bóp hồi phục bằng máy

Câu 18.Tác dụng xoa bóp hồi phục  bằng nước.

Câu 19.Tác dụng xoa bóp hồi phục  khi tắm hơi .

Câu 20.Phương pháp sử dụng vòi sen, bồn tắm và suối nước khoáng

Câu 21. Phương pháp trình tự xoa bóp hồi phục

Câu 22. Nhiệm vụ chủ yếu của dược học TT?

Câu 23. Các yêu cầu cơ bản trong sử dụng dược chất hồi phục

Câu 24. Các nguyên tắc cơ bản trong sử dụng các dược chất hồi phục ?

Câu 25. Phân loại các chất hồi phục trong hoạt động TT ?

Câu 26. Tác dụng sinh lý của kỹ thuật duỗi cơ trong hồi phục ? cho vị dụ cụ thể kỹ thuật duỗi cơ ở môn TT chuyên sâu?

Câu 27. Tác dụng sinh lý của kỹ thuật rung cơ và lắc cơ trong hồi phục ? cho vị dụ cụ thể kỹ thuật rung lắc cơ ở môn TT chuyên sâu

Câu 28. Tác dụng sinh lý của giấc ngủ trong hồi phục? Muốn có giấc ngủ ngon cần làm gì?

Câu 29. Phân loại điều trị bằng điện

Câu 30.  Tác dụng sinh học của dòng điện cao tần, sóng ngắn

Câu 31. Tác động của nhiệt độ lên hệ thần kinh.

Câu 32. Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phục hồi dự trữ glycogen.

Câu 33. Phương pháp tăng khả năng dự trữ lượng glucogenCâu 34. Đồ uống khi vận độngCâu 35.Sự tạo nhiệt trong quá trình hoạt động:

Câu 34. Đồ uống khi vận động

Câu 35.Sự tạo nhiệt trong quá trình hoạt động:

Câu 36.Tác hại của việc thiếu nước:

 Câu 37.Yêu cầu về bồi hoàn nước:

Câu 38. Phương pháp tự  điều hòa cảm xúc và giức ngủ bằng tác động lên cơ quan phân tích vận động

Câu 39. Phương pháp tự  điều hòa cảm xúc và giức ngủ bằng tác

Câu 40. Phương pháp tự  điều hòa cảm xúc và giức ngủ bằng tác động lên cơ quan phân tích thính giác (âm thanh)?.

NGÂN HÀNG VÀ ĐÁP ÁN HỒI PHỤCTDTT

Câu1:Khái niệm về hồi phục ( khái niệm hồi phục,sự hồi phục,trạng thái,quá trình,giai đoạn hồi phục ),bản chất, đặc điểm và phân loại quá trình hồi phục.

Đáp án:

            Khái niệm  Hồi phục: Là khôi phục lại chức năng sinh lý biến đổi trong vận động về trạng thái trước  vận động. Như vậy hồi phục là sau khi kết thúc lượng vận động bài tập,tất cả các chức năng của cơ thể dần dần được trở về trạng thái ban đầu.

Sự hồi phục: Tập hợp tất cả những biến đổi chức năng cơ thể trong giai đoạn hồi phục được gọi là sự hồi phục.

   -Trạng thái hồi phục: Trạng thái cơ thể khi các quá trình hồi phục đang diễn ra được gọi là "trạng thái hồi phục"

   -Giai đoạn hồi phục:Thời gian sau lượng vận động bài tập diễn ra sự hồi phục được gọi là giai đoạn hồi phục.

    - Quá trình hồi phục:  Các quá trình sinh lý đảm bảo hồi phục những cơ quan, hệ cơ quan sẽ xảy ra những biến đổi đưa cơ quan  trở về trạng thái chức năng trước lúc vận động được gọi là quá trình hồi phục

Bản chất của quá trình hồi phục.

- Đào thải các sản phẩm trao đổi chất: Axítlắctic, urê, CO2... qua con đường bài tiết.

- Phục hồi các năng lượng đã mất đi và tổng hợp,các men thích ứng.

VD: Sau khi đường  cung cấp cho hoạt động, nó được tổng hợp lại và tăng lên ở dạng dự trữ để chuẩn bị cho các hoạt động tiếp theo.

- Đưa cơ thể trở về trạng thái ban đầu.

VD: Tần số nhịp tim tăng lên khi vận động, khi nghỉ ngơi lại trở về mức ban đầu là 75 lần/1' (bình thường) còn với vận động viên thậm chí thấp hơn 55-60 lần/1 phút. Đó là sự biểu hiện của sự thích nghi với vận động.

- Biến đổi trong quá trình hồi phục sẽ làm tăng khả năng chức phận, tăng đồng hoá các chất.

* Khả năng chức phận là các chức năng của bộ phận cơ thể.

+ Trạng thái chức năng: Bao gồm cả cấu trúc và chức năng.

Ví dụ: Tim vận động viên có sự phì đại mới có lưu lượng phút là 32  đến 34 lít/phút.

+ Trạng thái thể chất bao gồm cả cấu trúc, chức năng và tố chất vận động.

Ví dụ: Cơ phì đại thì chức năng co rút, thả lỏng nhanh và biểu thị tăng tố chất sức nhanh, sức mạnh.

Đặc điểmcủa quá trình hồi phục:

Quá trình hồi phục của các chức năng sinh lý xảy ra theo một số đặc điểm chung sau.

- Quá trình hồi phục của từng chức năng cũng như khả năng hoạt động thể lực nói chung xảy ra theo hình làn sóng và không đều, được biểu diễn theo một đường đồ thị dạng hình sin, tăng giảm theo tính chất có quy luật theo chu kỳ tắt dần.                                    

- Nhịp độ hồi phục của các chức năng sinh lý xảy ra không đều: Ngay sau hoạt động, sự hồi phục chức năng xảy ra nhanh hơn, sau đó chậm hơn.

- Các chức năng sinh lý khác nhau, thậm chí chỉ số sinh lý khác nhau hồi phục với tốc độ khác nhau.

- Khả năng hoạt động thể lực và nhiều chức năng liên quan với khả năng hoạt động thể lực của cơ thể sau hoạt động với cường độ lớn không chỉ hồi phục đến mức trước vận động mà còn vượt quá mức đó, tạo ra sự hồi phục vượt mức.

Phân loại quá trình hồi phục : Có 4 giai đoạn.

- Hồi phục nhanh: Quá trình hồi phục diễn ra trong hoặc ngay sau khi ngừng vận động.( bản chất của nó là sự trả nợ dưỡng)VD hồi phục tần số nhịp tim, lưu lượng phút, lưu lượng tâm thu, tấn số hô hấp, thông khí phổi.

- Hồi phục chậm: Quá trình hồi phục năng lượng.

- Hồi phục vượt mức: Là hồi phục dự trữ năng lượng dẫn đến tích luỹ trên mức trao đổi chất , tăng cường các chức năng cơ bản và khả năng hoạt động của cơ thể, các chỉ tiêu sinh lý cao hơn mức ban đầu.

- Hồi phục muộn.  Là hồi phục các chỉ số chức năng còn lại. Sự dần dần biến mất các biểu hiện của mệt mỏi, có thể kéo dài trong nhiều giờ đồng hồ thậm chí vài ngày sau tập luyện mới đạt được trạng thái hồi phục hoàn toàn, phụ thuộc vào cường độ, tính chất và thời gian thực hiện bài tập.

 

Câu 2.Trình bày các quy luật diễn biến các quá trình hồi phục chức năng cơ thể vận động viên trong tập luyện và thi đấu TDTT .

Đáp án:

Sau đây là một số quy luật diễn biến của quá trình hồi phục theo quan điểm  của I.P. Pavlov:

                 + Trong cơ quan đang hoạt động, bên cạnh các quá trình phá vỡ và suy kiệt luôn diễn ra quá trình hồi phục. Quá trình hồi phục không chỉ diễn ra sau khi kết thúc vận động, mà nó đã diễn ra ngay trong quá trình tập luyện và thi đấu.

                  + Mối quan hệ giữa mức độ suy kiệt và tốc độ hồi phục phụ thuộc vào cường độ của vận động. Trong thời gian thực hiện các bài tập có cường độ vận động lớn trong thời gian dài, quá trình hồi phục không ở trạng thái bù lại hoàn toàn sự tiêu hao năng lượng, bởi vậy quá trình bù đắp hoàn toàn các biến đổi sẽ diễn ra muộn hơn - trong thời gian nghỉ sau vận động.

                   + Sự hồi phục các nguồn dữ trữ bị tiêu hao diễn ra không chỉ về mức xuất phát ban đầu, mà có thể vượt lên cao hơn (hồi phục vượt mức)

 

Câu 3. Trình bày các giai đoạn của quá trình hồi phục

Đáp án:

Các quá trình hồi phục diễn ra theo dạng sóng,IA.M.Kos (1986)đã chia quá trình hồi phục ra làm 4 pha :

-Pha hồi phục nhanh

-Pha hồi phục chậm

-Pha hồi phục vượt mức

-Pha hồi phục muộn

Theo tác giả hai pha đầu tương đương với giai đoạn hồi phục khả năng hoạt động bị giảm do kết quả của tập luyện mệt mỏi kéo dài, pha thứ ba gia tăng khả năng hoạt động hay còn gọi là pha hồi phục vượt mức, pha thứ tư khả năng tập luyện trở về trạng thái xuất phát.

 

Mức khả năng hoạt động thể lực xuất phát

Tập luyện      

Hồi phục      

Mức xuất phát

Hồi phục      

Vượt mức

Khả năng hoạt

động thể lực

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


                            

                                                                         

                  

Sơ đồ : Biến đổi chức năng trong và sau hoạt động thể lực

            Phụ thuộc vào xu hướng chung của các biến đổi sinh lý, sinh hóa và thời gian cần thiết để hồi phục những biến đổi đã về mức bình thường, nhiều tác giả chia quá trình hồi phục thành hai hình thức:

-Hồi phục nhanh và hồi phục muộn

      + Hồi phục nhanh lan truyền trong khoảng 30 -90 phút đầu của giai đoạn hồi phục, có thể kéo dài lâu hơn sau những lượng vận động thể lực có cường độ lớn và kéo dài.Ở giai đoạn này diễn ra quá trình phân giải các sản phẩm của quá trình chuyển hóa yếm khí tích tụ trong thời gian thực hiện lượng vận động và trả  nợ O2

     + Hồi phục muộn kéo dài trong nhiều giờ đồng hồ thậm chí vài ngày sau tập luyện phụ thuộc vào cường độ và thời gian thực hiện bài tập.

Trong giai đoạn này tăng cường các quá trình chuyển hoá thích nghi, trao đổi, tái tạo và khắc phục các rối loạn cân bằng ion và hormone trong cơ thể, phục hồi nguồn dự trữ năng lượng của cơ thể, tăng cường tổng hợp các men và prôtit cấu trúc bị tiêu hủy trong quá trình hoạt động cơ.

            Trong giai đoạn hồi phục muộn có pha hồi phục vượt mức với đặc điểm là khả năng hoạt động thể lực và nhiều chức năng liên quan đến khả năng hoạt động thể lực (chủ yếu hồi phục vượt mức dự trữ năng lượng) của cơ thể sau hoạt động với cường độ lớn không chỉ hồi phục về mức trước vận động, mà còn vượt quá mức đó.Trong thực tế huấn luyện, nếu buổi tập sau được bắt đầu từ trong pha hồi phục vượt mức sẽ là cơ sở để nâng cao năng lực vận động, thành tích TT.

Câu 4. Trình bầy các quy luật chung của quá trình hồi phục các chức năng ?cho vị dụ thực tế trong hoạt động môn TT chuyên sâu

Đáp án:

Quá trình hồi phục các chức năng cơ thể VĐV diễn ra theo ba quy luật phổ biến sau :

     + Tốc độ và thời gian hồi phục của đa số các chỉ tiêu chức năng cơ thể phụ thuộc trực tiếp vào cường độ, thời gian vận động và trình độ tập luyện. Công suất vận động càng lớn, thì các biến đổi chức năng cơ thể càng diễn ra sâu sắc và tốc độ hồi phục càng nhanh. Điều đó có nghĩa là sau các bài tập có công suất cực lớn và diễn ra trong thời gian ngắn, thì hồi phục diễn ra sẽ rất nhanh, chỉ sau ít phút .Ví dụ, sau khi VĐV thực hiện bài tập kéo dài trong thời gian 30 giây  với cường độ đạt 90-95 % mức tối đa. Một số chỉ số chức năng tuần hoàn, hô hấp hồi phục sau 30 - 60 giây, một số chỉ số chức năng khác có thể kéo dài 3 - 4 phút hoặc lâu hơn.Còn các bài tập công suất vận động trung bình, thời gian vận động kéo dài, thì thời gian hồi phục có thể kéo dài đến một vài ngày hoặc lâu hơn.

       + Tốc độ hồi phục các chức năng, thậm chí các chỉ số trong một chức năng có thể không giống nhau.Ví dụ, sau hoạt động công suất tối đa, chỉ số huyết áp hồi phục sau 6 - 8 phút, nhưng thời gian hồi phục tần số mạch cần khoảng 20 phút ...Vì vậy, sự kết thúc giai đoạn hồi phục không được đánh giá một cách riêng rẽ từng chỉ tiêu hay một nhóm các chỉ tiêu mà chủ yếu căn cứ vào sự hồi phục chỉ tiêu có tốc độ chậm nhất.

     + Năng lực vận động và một số chức năng quan trọng của cơ thể quy định năng lực vận động đó trong quá trình hồi phục sau các hoạt đông cơ căng thẳng không những đạt mức độ trước vận động mà còn có thể đạt ở mức cao hơn. Đây còn gọi là quy luật hồi phục vượt mức.

 

Câu 5. Diễn biến quá trình hồi phục cơ thể VĐV khi thực hiện các lượng vận động thể lực có các tính chất khác nhau.Có các đặc điểm sau:

Đáp án:

            Các quá trình hồi phục diễn ra không đều, tính chất pha của sự hồi phục năng lực vận động, thời gian hồi phục các chức năng thực vật không giống nhau (không đồng thời )sự hồi phục chức năng vận động và chức năng thực vật không giống nhau.

            Cường độ của các quá trình hồi phục và thời gian cần thiết để phục hồi  nguồn năng lượng dự trữ trong cơ thể phụ thuộc vào tốc độ tiêu hao chúng trong thời gian thực hiện bài tập.Tăng nhanh cường độ các quá trình hồi phục dẫn đến : Ở một thời điểm nhất định trong khi nghỉ  ngơi sau tập luyện, nguồn dự trữ năng lượng trong cơ thể có thể được hồi phục vượt quá mức trước vận động (do hoạt động các men đồng hóa được tăng cường), hiện tượng này gọi là sự hồi phục vượt mức.Thời gian của pha này phụ thuộc vào thời gian thực hiện bài tập và mức độ biến đổi của các quá trình sinh hóa trong cơ thể.

            Tốc độ của các quá trình hồi phục, sự nhạy cảm đối với một số phương tiện hồi phục có thể liên quan tới các đặc điểm cá thể của vận động viên.Các vận động viên có cùng trình độ tập luyện có thể có khả năng hồi phục khác nhau.Ví dụ một số vận động viên có trình độ tập luyện cao (đạt phong độ TT tốt )nhưng hồi phục diễn ra chậm.

            Các quá trình hồi phục sau khi thực hiện một hoạt động thể lực bất kỳ  nào sẽ diễn ra khác nhau ở các thời điểm khác nhau, và công suất tốc độ của các quá trình hồi phục diễn ra mạnh mẽ nhất ở giai đoạn ngay sau khi kết thúc bài tập.Theo nghiên cứu của V.M.Zasiorski (1990),Khi thực hiện các lượng vận động có tính chất khác nhau, công suất và thời gian của quá trình hồi phục diễn ra theo ba mức ,ở một phần ba thời gian đầu của giai đoạn hồi phục, hồi phục khoảng 60 %. một phần ba giữa hồi phục khoảng 30 % và ở một phần ba cuối hồi phục khoảng 10 % các phản ứng hồi phục.

             Khi nghiên cứu diễn biến sự hồi phục tần số mạch  sau các bài tập ưa khí V.M. Alecseev (1983) chia ra hai giai đoạn hồi phục khác nhau. Giai đoạn thứ nhất - giảm nhanh tần số mạch. Trong giai đoạn này s giảm tần số mạch diễn ra với tốc độ nhanh và không đổi trong vòng 60 giây đầu ngay sau khi kết thúc bài tập ưa khí tối đa và trong vòng 45 - 50 giây đầu sau khi kết thúc bài tập ưa khí dưới tối đa. Tác giả thấy tốc độ giảm tần số mạch trong giai đoạn này không phụ thuộc vào tần số mạch trong vận động, hay nói cách khác là cường độ vận động.

            Giai đoạn hai - giai đoạn tần số mạch giảm chậm và phụ thuộc vào tần số mạch trong vận động ,nghĩa là phụ thuộc vào cường độ vận động.

            Trong các nghiên cứu, V.P. Philin (1951) thấy tần số mạch, giá trị huyết áp và các chỉ số điện tâm đồ sau khi thực hiện các bài tập tốc độ và sức mạnh - tốc độ hồi phục hoàn toàn sau 24 giờ .Thời gian hồi phục lượng oxy hấp thụ tối đa (VO 2 max) phụ thuộc vào trình độ rèn luyện và khối lượng công việc đã thực hiện (B.C. Gippenreiter, 1966) .Trong các nghiên cứu của M.IA. Gorkin và cộng sự (1973) trên các chỉ số hô hấp ngoài, sức mạnh cơ bắp, các chỉ số thành phần  của máu...đã đưa ra kết luận rằng: Có thể đạt được kết quả tập luyện  cao khi thực hiện lặp lại bài tập ở giai đoạn năng lực vận động tăng.

            Các tác giả cho rằng các chỉ số của sự hồi phục hoàn toàn của cơ thể về mức độ xuất phát cần được coi là sự hồi phục muộn của một số chức năng. Điều này là cơ sở cho quan điểm về việc sử dụng các bài tập tập luyện có lượng vận động lớn không quá 1 lần trong 5 - 7 ngày .

            Hồi phục các chức năng sau vận động đặc trưng bởi hàng loạt các đặc điểm không chỉ xác định quá trình hồi phục, mà còn xác định mối liên quan lẫn nhau có tính chất kế thừa với các bài tập trước và bài tập sau đó, mức độ sẵn sàng lặp lại bài tập của người tập.

  Đặc trưng diễn biến quá trình hồi phục sau lượng vận động tập luyện và thi đấu là sự hồi phục diễn ra không đều các chỉ số khác nhau so với trước vận động, tính chất pha của sự hồi phục năng lực vận động, thời gian hồi phục các chức năng thực vật không giống nhau (B.C. Gippenreiter, 1966; N.D. Graievskaia, 1987; V.V. Rozenblat, 1975; V.M. Volcov, 1977; V.I. Dubrovski, 1991, 1999...) Sau khi thực hiện bài tập trong thời gian 30 giây với công suất đạt 90% so với mức tối đa thì quá trình hồi phục khả năng làm việc của cơ thể diễn ra từ 90-120 giây, các chỉ số chức năng thực vật hồi phục sau 30-60 giây, còn các chức năng khác thì xê dịch đến 3-4 phút hoặc có thể nhiều hơn.

            Trong quá trình thực hiện các bài tập vận động, diễn ra sự tiêu hao năng lượng dự trữ oxy của cơ thể , phosphagen (ATP và CP), glycogen của cơ và gan, glucose của máu và tiêu hao mỡ. Sau khi kết thúc bài tập, các nguồn năng lượng này sẽ diễn ra dần dần hồi phục. Các tác giả  IA.M. Kos,1986; V.C. Misenco, 1990 thấy rằng: Chỉ sau ít giây ngay sau khi kết thúc bài tập, dự trữ oxy của cơ thể (khoảng 11ml oxy/kg cơ) đã được hồi phục hoàn toàn, đây là lượng oxy gắn với mioglobin.

            -Trả nợ oxy do quá trình phi lacstat(alactacid debt): Sau 3-5 phút trả nợ oxy do quá trình phi  lactate-lượng oxy để hồi phục lượng photphagen bị tiêu hao.

            Sự hồi phục lượng phosphagen diễn ra rất nhanh. Trong vòng 30 giây ngay sau khi kết thúc vận động, phục hồi khoảng 70% lượng phosphagen tiêu hao, còn sự hồi phục hoàn toàn kết thúc sau vài phút và chủ yếu là do năng lượng chuyển hoá ưa khí, tức là nhờ lượng oxy cơ thể hấp thụ ngay ở pha đầu của sự hồi phục  nợ oxy.

            -Phân hủy acid latic, trả nợ oxy do quá trình glucôphân yếm khí (lactacid debt):  Sau 30- 90 phút trả nợ oxy do quá trình glucôphân, đây là lượng oxy để phân hủy acid lactic, bao gồm: Đốt cháy trong cơ bắp, cơ tim, tổng hợp thành glycogen, trong gan và thận.

            Lượng glucose và glycogen bị tiêu hao trong hoạt động cơ càng lớn, thì lượng oxy cần cho sự hồi phục chúng càng nhiều .  Trong giai đoạn hồi phục, diễn ra sự phân giải axit lactic tích luỹ trong cơ, gan và dịch mô. Một phần axit lactic được sử dụng để tái tổng hợp glycogen ở gan và cơ (20 %); một phần bị đốt cháy tạo ra H20 và C02 ở cơ bắp (sợi cơ chậm ) và cơ tim (70 %);một phần chuyển hóa thành protid (10%);còn lại 1-2 % được thải ra ngoài qua đường mồ hôi và nước tiểu. Nếu sau những bài tập có lượng vận động lớn mà vận động viên thực hiện các bài tập có lượng vận động nhỏ (phục hồi tích cực) thì sự phân giải lượng axit lactic sẽ diễn ra nhanh hơn. Theo V.M. Diachco việc thực hiện những bài tập ưa khí có cường độ trung bình có ảnh hưởng tốt đối với diễn biến của các quá trình hồi phục.

Câu 6.Khái niệm mệt mỏi ( theo quan điểm xh,tâm lý,y sinh và kết luận)Hiện nay, tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về mệt mỏi tuỳ theo các khía cạnh khác nhau (sinh lý, tâm lý, xã hội ).

Đáp án:

-Về mặt sinh lý: Theo F.C. Barlet (1953) thì mệt mỏi là trạng thái giảm khả năng tập luyện do hoạt đông kéo dài trong điều kiện bình thường, còn V.V. Rozenblat (1975)  cho rằng mệt là hiện tượng giảm khả năng tập luyện có ý nghĩa tạm thời và có khả năng phục hồi...

-Về mặt tâm lý: Mệt mỏi là một cảm giác khó chịu làm giảm khả năng tập luyện, gây ra do tập luyện quá mức kéo dài; mệt mỏi là một cảm giác không rõ rệt đi từ khoái lạc do một hoạt động được thoả mãn đầy đủ, báo hiệu nhu cầu nghỉ ngơi hồi phục, cho đến cảm giác khó chịu hay suy sụp rã rời (Morin, 1946).

            -Về mặt xã hội: Mệt mỏi là sự giảm năng suất, chất lượng công việc hay  thành phẩm và có thể đưa đến tai nạn tập luyện.                

                Tóm lại, theo quan niệm của chúng tôi, mệt mỏi là một hiện tượng tâm sinh lý bình thường, một trạng thái tất yếu của cơ thể xuất hiện do thực hiện lượng vận động tập luyện thể lực hoặc tập luyện TDTT, là sự giảm sút tạm thời khả năng tập luyện, là sự suy giảm các chức năng thần kinh trung ương, thần kinh cơ, chức năng vận động, chức năng hệ thần kinh thực vật, hệ thống thể dịch và phá vỡ sự phối hợp giữa chúng mà biểu hiện là cảm giác mệt. Về mặt sinh học, mệt mỏi là một phản ứng bảo vệ báo hiệu cho cơ thể phải ngừng tập luyện để tránh sự suy kiệt các dự trữ chức năng, bảo vệ cơ thể khỏi sự căng thẳng trường diễn, và bên cạnh đó mệt mỏi như một hiện tượng lưu giấu vết của hoạt động cơ đã thực hiện, thúc đẩy sự phát triển khả năng thích nghi chức năng và thích nghi sinh hoá, kích thích sự gia tăng năng lực vận động và trình độ rèn luyện của cơ thể. Không có cảm giác mệt mỏi con người không thể có được cảm giác thoả mãn với công việc mình đã làm. Trong huấn luyện TDTT, ta thường nói, nếu không có mệt mỏi thì không có huấn luyện, không có hồi phục thì không có nâng cao.

Câu 7.Cơ chế của mệt mỏi trong lao động thể lực và hoạt động TDTT ở các vùng cường độ khác nhau.

Đáp án:

                  Hiện nay, mệt mỏi trong hoạt động thể lực được giải thích bằng bốn cơ chế cơ bản sau :

      1. Mệt mỏi do các trung tâm thần kinh:

            Khi thực hiện bất kỳ một bài tập thể lực nào đều diễn ra những biến đổi chức năng của các trung tâm thần kinh điều khiển hoạt động cơ và hệ thống đảm bảo dinh dưỡng, đặc biệt là các trung khu thần kinh ở vỏ não. Khi thực hiện các bài tập có cường độ lớn hoặc kéo dài, các xung động thần kinh (với tần số cao hoặc kéo dài đơn điệu)từ các cảm thụ bản thể (recepters) ở các cơ, khớp, dây chằng,  gân, ổ khớp liên tục được truyền về các trung tâm thần kinh ở vỏ não và các trung tâm vận động của tủy sống có thể làm cho các trung tâm này bị hưng phấn tột độ-gây ức chế trên giới hạn, và gây mệt mỏi theo Pavlov Sự mệt mỏi này là biểu hiện của ức chế bảo vệ trên giới hạn khi hưng phấn quá mức.

Trong trạng thái mệt mỏi, giảm hàm lượng ATP trong các noron thần kinh và rối loạn sự tổng hợp acetylcholine trong các tổ chức xináp thần kinh-cơ, kết quả là rối loạn sự hình thành và dẫn truyền các xung động thần kinh đến các cơ hoạt động.

             Mệt mỏi có thể liên quan đến những thay đổi trong hoạt động của hệ thống thần kinh thực vật và hệ thống nội tiết.Những thay đổi trong hoạt động của các hệ thống này có thể dẫn đến rối loạn điều khiển chức năng thực vật và rối loạn đảm bảo năng lượng cho hoạt động cơ.

Trong quá trình thực hiện các bài tập thể lực, sự xuất hiện mệt mỏi sẽ ức chế hoạt động của các tuyến nội tiết  (trong đó có hệ thống giao cảm-tủy thượng thận ),giảm tiết các hormone,và giảm hoạt tính của hàng loạt các men miozin ATP-aza kiểm soát sự chuyển năng lượng hóa học thành cơ học.Giảm tốc độ tái tổng hợp ATP, tự động giảm công xuất vận cơ.

              2.Mệt mỏi do nhiễm độc các sản phẩm chuyển hóa: Trong các hoạt động cơ với cường độ vận động lớn, năng lượng được cung cấp chủ yếu bằng phân giải glucose yếm khí và tạo ra nhiều acid lactic trong các tế bào cơ.Khi acid này khuyếch tán vào máu và gây nên sự thay đổi cân bằng kiềm toan giá trị pH máu có thể giảm xuống dưới 6,9 sau khi thực hiện bài tập công suất tối đa trong 40 - 60 giây. Giảm pH máu dẫn đến giảm hoạt tính của hàng loạt men (phospho fructokinaza,ATP,-aza...)mà hoạt tính của chúng thường cao trong môi trường kiềm nhẹ(pH=7,35-7,40),dẫn đến ức chế quá trình glucophân, tức là hạn chế cung cấp năng lượng cho sự co cơ, kết quả là giảm khả năng hoạt động của cơ.Thực hiện những bài tập có cường độ lớn trong thời gian dài, một lượng mỡ đáng kể từ các kho dự trữ được huy động vào quá trình cung cấp năng lượng đi tới gan và bị phân hủy (khi hàm lượn cortisol huyết tương tăng quá cao), ở gan sẽ phá vỡ lipid được huy động thành các keto acid đơn giản của nó,dẫn đến tình trạng nguy hiểm (nhiễm toan-ketosis).Tăng cường phân hủy protid dẫn đến tăng hàm lượng urê máu.

             Như vậy sự tích lũy các sản phẩm chuyển hóa làm cơ thể bị nhiễm độc và gây nên trạng thái mệt mỏi.

             3 .Mệt mỏi do cạn kiệt dự trữ năng lượng: Các nguồn dự trữ năng lượng có thể bị tiêu hao đáng kể trong các loại hình hoạt động khác nhau và có thể là nguyên nhân gây nên tình trạng mệt mỏi. Đối với các hoạt động yếm khí công suất tối đa,mệt mỏi là do cạn  kiệt ATP và CP dự trữ trong cơ, còn các hoạt động yếm khí dưới tối đa một trong những nguyên nhân gây mệt mỏi là do cạn kiệt nguồn glycogen cơ...

             Sau khi thực hiện bài tập công suất tối đa trong thời gian ngắn đến lúc từ chối ,hàm lượng CP trong cơ có thể kiệt quệ hoàn toàn, hàm lượng ATP trong cơ giảm xuống mức 60-70 % so với yên tĩnh .Giảm tốc độ tái tổng hợp ATP có thể là nguyên nhân xuất hiện mệt mỏi .

            4.Mệt mỏi do thiếu ô xy trong vận động.Trong một số loại hình vận động với công suất lớn, hệ vận chuyển ô xy không có khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu ô xy của cơ thể.Thiếu ô xy làm cho các tế bào thần kinh và  và tế bào cơ bị  "ngạt thở ",gây ra hiện tượng ức chế thần kinh trung ương  và tích tụ acid lactic hoặc cạn kiệt dự trữ năng lượng do không được tái tổng hợp kịp thời và gây lờn mệt mỏi.

Như vậy không thể hạn chế nguyên nhân gây mệt mỏi ở một cơ quan hay hệ thống riêng lẻ, và mệt mỏi xuất hiện trong một loại hình vận động nào đã cũng không phải chỉ theo một cơ chế nhất định mà có thể là sự kết hợp của nhiều cơ chế khác nhau.

Câu 8. Đặc điểm mệt mỏi trong các vùng cường độ khác nhau, trong quá trình thực hiện các bài tập thể lực? Phương pháp lựa chọn bài tập thúc đẩy quá trình hồi phục mệt mỏi đó ?

Đáp án:

                 1.Mệt mỏi vùng cường độ vận động cực đại.

          Đại diên cho vùng này là các môn TT: Chạy 100m,200m,đua xe đạp tốc độ 200-500m,bơi 50m v.v.. Tốc độ tối đa.Thời gian thực hiện không quá 20--30s

 Mệt mỏi trước tiên liên quan đến hệ thống vận chuyển oxy hạn chế khả năng tập luyện,nguyên nhân là suy kiệt nguồn cung cấp năng lượng phi lac tát(ATP-CP )dự trữ trong cơ và sự mệt mỏi trung ưng thần kinh. Việc đảm bảo năng lượng được thực hiện do hệ thống phosphagen (ATP,CP), không có sự tham gia đáng kể của quá trình gluco -phân. Thông khí phổi (TKP) không vượt quá 20 - 30%  thông khí phổi tối đa. Tần số tim (F) trước xuất phát đạt 140 - 150 nhịp/phút, sau khi kết thúc bài tập đạt 160 - 180 nhịp/phút,có thể đạt 180- 200 lần/phút. Hàm lượng axit lactic máu đạt 5 - 8 mmol/lít. Trước khi thực hiện bài tập hàm lượng glucoza máu hơi tăng. Trước và trong khi thực hiện bài tập hàm lượng catecholamin và corticoid tăng, hàm lượng insulin giảm.Nhu cầu oxy khoảng 7 - 14 lít, nợ oxy đạt 6 - 12 lít chiếm 90 - 95%.

 Trong các hoạt động có chu kỳ công suất tối đa, mệt mỏi xuất hiện rất nhanh. Để thực hiện hoạt động thể lực loại này , các trung tâm thần kinh hưng phấn rất mạnh, hoạt động của các cơ đối kháng phải phối hợp tối ưu,từ các cơ quan cảm thụ ở cơ có một luồng xung động hướng tâm rất nhanh và mạnh đi đến các trung tâm thần kinh. Vì vậy trung tâm thần kinh sớm bị ức chế, khả năng hoạt động của thần kinh dễ bị ức chế, khả năng  của  hoạt động của thần kinh giảm sút nhanh chóng.

Năng lượng cung cấp cho hoạt động công suất tối đa là các photphagen (ATP-CP). Photphagen, đặc biệt là CP bị phân huỷ rất nhanh. Vì vậy cạn dự trữ năng lượng cũng làm mệt mỏi xuất hiện sớm.

Như vậy là trong hoạ


NGÂN HÀNG CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN MÔN Y HỌC THỂ THAO ( Dành cho SV Trường DH TDTTBN )

Published on 18:40, 04/20,2009

 

Câu 1. Khái niệm, nhiệm vụ và đặc điểm của y học thể thao?.

Câu 2. Khái niệm, nhiệm vụ và các hình thức kiểm tra y học thể thao?.

Câu 3. Khái niệm, phân loại, nội dung và mục đích các phương pháp áp dụng trong kiểm tra y học thể thao?.

Câu 4. Khái niệm, nhiệm vụ và nội dung các phương pháp ứng dụng trong kiểm tra mức độ phát triển thể lực?.

Câu 5. Phương pháp đánh giá mức độ phát triển thể lực theo sơ đồ nhân trắc?

Câu 6. Ý nghĩa, phương pháp tiến hành và đánh giá tư thể thân người và hình dáng lưng của cơ thể?.

Câu 7. Ý nghĩa, phương pháp tiến hành và đánh giá hình dáng ngực của cơ thể?.

Câu 8. Ý nghĩa, phương pháp tiến hành và đánh giá hình dáng tay?.

Câu 9. Ý nghĩa, phương pháp tiến hành và đánh giá hình dáng chân, cung bàn chân?

Câu 10. Nội dung, ý nghĩa các phương pháp ứng dụng trong kiểm tra chức năng tim mạch?.

Câu 11. Phương pháp tiến hành và cách đánh giá thử nghiệm công năng tim?.

Câu 12. Trình bày phương pháp tiến hành và cách đánh giá thử nghiệm  Mi chi gân.

Câu 13.Trình bày phương pháp tiến hành và cách đánh giá thử nghiệm Côculốp Xki

Câu 14. Trình bày phương pháp tiến hành và cách đánh giá thử  nghiệm Rujfier?

Câu 15. Trình bày phương pháp tiến hành và cách đánh giá thử nghiệm Harvard?

Câu 16. Phương pháp tiến hành và cách đánh giá test PWC 170.

Câu 17. Phương pháp tiến hành và cách đánh giá thử nghiệm Letunop?.

Câu 18. Khái niệm chung về phản ứng chức năng tim mạch. Cơ chế phản ứng tim mạch bình thường sau vận động?.

Câu 19. Ý nghĩa, đặc điểm và cơ chế của  phản ứng trương lực mạnh  sau vận động?

Câu 20. Ý nghĩa, đặc điểm và cơ chế của  phản ứng trương lực yếu sau vận động?

Câu 21. Ý nghĩa, đặc điểm và cơ chế của các phản ứng phản ứng vô lực  sau vận động?

Câu 22. Ý nghĩa, đặc điểm và cơ chế của các phản ứng  phản ứng bậc thang sau vận động?

Câu 23. Trình bày nội dung, ý nghĩa các phương pháp ứng dụng trong kiểm tra chức năng hệ hô hấp?

Câu 24. Ý nghĩa, phương pháp tiến hành và đánh giá test đo dung tích sống, dung tích sống đột ngột ?

Câu 25. Ý nghĩa, phương pháp tiến hành và đánh giá test  Rozental?

Câu 26. Ý nghĩa, phương pháp tiến hành và đánh giá test đo VO­2 Max và hệ số hấp thụ ôxy?

Câu 27. Ý nghĩa, phương pháp tiến hành đánh giá test đo áp lực phổi ?

Câu 28. Ý nghĩa, phương pháp tiến hành đánh giá test  nín thở ( Gentri , Stange, Serkin).

Câu 29. Trình bày các phương pháp kiểm tra chức năng hệ thần kinh. Phương pháp phân loại loại hình thần kinh?.

Câu 30. Phương pháp tiến hành và đánh giá test chức năng thần kinh thực vật?.

Câu 31. Phương pháp tiến hành và đánh giá test chức năng tiền đình?.

Câu 32. Phương pháp tiến hành và đánh giá test chức năng thần kinh cơ?.

Câu 33. Nội dung, phương pháp tiến hành và đánh giá các thử nghiệm kiểm tra chức năng các cơ quan cảm thụ?.

Câu 34. Khái niệm, nhiệm vụ và yêu cầu khi lựa chọn phương pháp áp dụng trong kiểm tra y học sư phạm?.

Câu 35. Phương pháp đánh giá cường độ của buổi tập?.

Câu 36. Phương pháp đánh giá lượng vận động của buổi tập?.

Câu 37. Khái niệm, ý nghĩa và nội dung và phương pháp tự kiểm tra y học?.

Câu 38. Khái niệm, phân loại chấn thương TDTT?

Câu 39. Tầm Quan trọng của công tác đề phòng chấn thương?

Câu 40. Nguyên nhân gây chấn thương TDTT?

Câu 41. Phương pháp đề phòng chấn thương TDTT?

Câu 42. Nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng và phương pháp xử lý bước đầu chấn thương ngoài da?

Câu 43. Nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng và phương pháp xử lý bước đầu chấn thương phần mềm?

Câu 44. Khái niệm và phân loại gãy xương?

Câu 45. Nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng và phương pháp xử lý bước đầu gẫy xương?

Câu 46. Nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng và phương pháp xử lý bước đầu sai khơp?.

Câu 47. Nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng và phương pháp xử lý bước đầu sai khớp vai?

 Câu 48. Nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng và phương pháp xử lý bước đầu sai khớp khuỷu?

Câu 49. Nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng và phương pháp xử lý bước đầu chấn thương cột sống?

Câu 50. Nguyên nhân, phân loại và đặc điểm của chấn thương sọ não?

Câu 51. Khái niệm và ý nghĩa của cấp cứu?

Câu 52. Những điều cần chú ý khi cấp cứu?

Câu 53. Khái niệm, phân loại chảy máu và phương pháp cầm máu?

Câu 54. Các phương pháp băng, ý nghĩa của những yêu cầu khi băng?

Câu 55. Hô hấp nhân tạo?

Câu 56. Khái niệm và phương pháp tiến hành hà hơi thổi ngạt kết hợp với xoa bóp tim ngoài lồng ngực?

Câu 57. Khái niêm, nguyên nhân và các quá trình sinh bệnh?

Câu 58. Khái niêm, nguyên nhân và phương pháp đề phòng đột tử trong thể thao?

Câu 59. Khái niệm, phân loại và phương pháp xử lý bệnh nhân căng thẳng quá độ?

Câu 60. Khái niệm, nguyên nhân, triều chứng lâm sàng và phương pháp xử lý choáng trọng lực?

Câu 61. Nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng, phương pháp xử lý và đề phòng cảm nắng?

Câu 62. Khái niệm, nguyên nhân, phương pháp xử lý và đề phòng chuột rút?

Câu 63. Khái niệm, nguyên nhân, triều chứng lâm sàng và phương pháp xử lý và đề phòng thoát vị bẹn?

Câu 64. Khái niệm, nguyên nhân, triều chứng lâm sàng và phương pháp xử lý bước đầu đau bụng trong tập luyện?

Câu 65. Khái niệm, nguyên nhân, triều chứng lâm sàng và phương pháp xử lý bước đầu bệnh giảm đường máu?

Câu 66. Khái niệm, nguyên nhân, triều chứng lâm sàng và phương pháp xử lý và đề phòng mệt mỏi quá độ?

Câu 67. Khái niệm, Phân loại các phương pháp hồi phục ? Hãy vẽ sơ đồ đồ tổng quát các phương pháp hồi phục sức khỏe cho VĐV ?

NGÂN HÀNG CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN MÔN Y HỌC THỂ THAO

Câu 1. Khái niệm, nhiệm vụ và đặc điểm của y học thể thao?.

          Đáp án:

- Khái niệm:

          Trước hết đó là một môn khoa học y học thực hành với đầy đủ nhiệm vụ, phương pháp, cơ sở lý luận và các vấn đề nghiên cứu khoa học đặc trưng. Đó là khoa học  ứng dụng những kiến thức y sinh học để nghiên cứu và hoàn thiện quá trình giáo dục thể chất, nhằm nâng cao sức khoẻ và thành tích của người tập. Là một bộ phận của y học chung, nó nghiên cứu con người và phục vụ con người trong hệ thống y tế cộng đồng.

          - Nhiệm vụ:

          + Tổ chức và tiến hành theo dõi sức khoẻ cho tất cả những người tham gia luyện tập - là nghiên cứu khả năng hoạt động thể lực của con người ở mức độ nào. Đây là nhiệm vụ của kiểm tra y học thông qua việc kiểm tra mức độ phát triển thể lực, kiểm tra chức năng và đánh giá.

          + Nghiên cứu những biến đổi của cơ thể trong quá trình hoạt động thể lực. Trên cơ sở đó điều chỉnh và xây dựng nội dung luyện tập, xác định các chế độ đảm bảo cho quá trình tập luyện với từng đối tượng khác nhau.

          + Xây dựng các biện pháp thúc đẩy quá trình hồi phục.

          + Xây dựng các chế độ, tiêu chuẩn vệ sinh tập luyện một cách hợp lý nhằm loại trừ những tác nhân gây ảnh hưởng xấu cho cơ thể người tập.

Các đặc điểm cơ bản của Y học thể thao :

          - Y học thể thao là một bộ phận của y học chung, nó nghiên cứu con người và phục vụ cho con người.

          - Là một  môn khoa học thực hành  -  sử dụng phương pháp kiểm tra y học thực hành để đánh giá trạng thái sức khoẻ  và khả năng thích ứng  với  trình độ tập luyện  của VĐV.

          - Là một môn khoa học ứng dụng trong hoạt động thể thao , vận dụng các kiến thức  y sinh học vào thực tiễn huấn luyện và tập luyện TDTT, nó hoàn toàn khác với

         

Câu 2. Khái niệm, nhiệm vụ và các hình thức kiểm tra y học thể thao?.

          Đáp án:

          - Khái niệm:

          Kiểm tra y học thể thao là một bộ phận cấu thành của y học Thể dục Thể thao sử dụng các cách thức có đủ độ tin cậy trên cơ sở của kiến thức y sinh học để đánh giá tình trạng  sức khoẻ, năng lực vận động và khả năng thích ứng của cơ thể vận động viên cũng như tất cả những người tham gia luyện tập Thể dục Thể thao.

          - Các nhiệm vụ cơ bản:

          + Tổ chức và tiến hành theo dõi y học thường xuyên với tất cả những người tham gia luyện tập.

          + Đánh giá, tuyển chọn và điều chỉnh các phương tiện tập luyện.

          + Phát hiện sớm những tổn thương (chấn thương bệnh lý).

          + Đánh giá mức độ phát triển thể lực, trình độ tập luyện.

          - Các hình thức kiểm tra:

          + Kiểm tra bước đầu:

          * Đối tượng: tất cả những người mới tham gia luyện tập.

          * Mục đích: đánh giá trạng thái sức khỏe, mức phát triển thể lực và khả năng thích ứng của cơ  thể  với lượng vận động. Kết quả kiểm tra bước đầu cho phép các cán bộ y học TT và bác sỹ thể thao đưa ra chỉ định tập luyện cho những người mới lần đầu tham gia tập luyện và là cơ sở để phân loại nhóm sức khoẻ. Đối với vận động viên , kết quả kiểm tra này được lưu lại làm cơ sở để theo dõi và đánh giá hiệu quả của quá trình luyện tập sau mỗi giai đoạn huấn luyện.

          + Kiểm tra định kỳ:

          * Đối tượng: những người tham gia sau một giai đoạn tập luyện.

          * Mục đích: đánh giá mức độ tác động của bài tập thể chất đến cơ thể người tập, khả năng thích ứng của cơ thể và mức độ phù hợp của phương tiện và phương pháp  huấn luyện, đánh giá mức độ phát triển thể lực và trình độ luyện tập. Như vậy việc kiểm tra định kỳ có tác dụng đánh giá hiệu quả của một giai đoạn huấn luyện và phát hiện sớm những biểu hiện  bệnh lý do quá trình tập luyện không hợp lý gây nên .

          + Kiểm tra bổ sung:

          * Đối tượng: vận động viên trước khi thi đấu, vận động viên sau chấn thương , bệnh tật và nghỉ tập lâu ngày hay trong các trường hợp xuất hiện dấu hiệu luyện tập qúa sức, vận động viên hoặc HLV đề nghị kiểm tra. .

          * Mục đích: với vận động viên sau giai đoạn bệnh lý là nhằm xác định khả năng và mức thích ứng với các phương tiện luyện tập.

          Với vận động viên chuẩn bị thi đấu nhằm đánh giá trạng thái sung sức thể thao và hạng cân tham gia thi đấu.

Câu 3. Khái niệm, phân loại, nội dung và mục đích các phương pháp áp dụng trong kiểm tra y học thể thao?.

          Đáp án:

          - Khái niệm, phân loại:

          Các phương pháp được áp dụng trong kiểm tra y học là những phương pháp, cách thức kiểm tra đảm bảo đủ độ tin cậy trên cơ sở của các môn khoa học y sinh học.

          Trong kiểm tra y học thể thao có thể được chia thành các nhóm:

          * Các phương pháp kiểm tra y học lâm sàng.

          * Các phương pháp kiểm tra bằng các nghiệm pháp chức năng (test chức năng chuẩn và chức năng tối đa, test nhân trắc).

          * Các phương pháp kiểm tra cận lâm sàng .

          - Nội dung, ý nghĩa các phương pháp:

          + Các phương pháp kiểm tra y học lâm sàng:

          * Thẩm vấn: Thẩm vấn với 3 nội dung chính : Thẩm vấn lý lịch cá nhân, thẩm vấn y học và thẩm vấn lý lịch thể thao.

          Thẩm vấn lý lịch và thẩm vấn y học được tiến hành theo những nội dung chung như trong y học đó là : Họ, tên, tuổi, nghề nghiệp giới tính, quê quán, các bệnh đã mắc phải và một số bệnh di truyền trong dòng họ. Tuy nhiên do đặc điểm đối tượng kiểm tra mà ý nghĩa của kết quả thấm vấn này rất hạn chế.

          Thẩm vấn về lý lịch thể thao cần phải làm  rõ các nội dung thời gian tập luyện, chế độ và phương pháp  tập luyện, môn chuyên sâu, đẳng cấp thể thao và thành tích đạt được theo năm tháng, các dấu hiệu chủ quan không  phù hợp trong tập luyện theo buổi tập, theo mùa và giai đoạn huấn luyện , các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng luyện tập.

          Việc thẩm vấn sẽ cho ta có được định hướng và cách nhìn tổng thể về trạng thái sức khoẻ và trình độ tập luyện của vận động viên, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp cần kiểm tra tiếp theo.

          *Quan sát : Là phương pháp  sử dụng thị giác để đánh giá các dấu hiệu bên ngoài, được áp dụng trong kiểm tra mức độ phát triển thể lực và chức năng của từng cơ quan trong cơ thể.

          *Sờ nắn : Thường được áp dụng như phương pháp  bổ sung cho quan sát và thẩm vấn nhằm xác định rõ những dấu hiệu ngầm chủ yếu trên khung xương.

          *Phương pháp gõ : Là phương pháp  nghe âm phản hồi sau khi gõ trực tiếp hay gián tiếp tới tổ chức cơ thể để đánh giá giới hạn, cấu trúc đại thể của một số cơ quan như tim, phổi, gan, lách..

          *Phương pháp nghe : Được áp dụng với các cơ quan trong quá trình hoạt động phát ra âm như tim, phổi.

       +Các phương pháp kiểm tra bằng các nghiệm pháp chức năng :

Các thử nghiệm chức năng, phụ thuộc vào cách thức tiến hành, bao gồm các thử nghiệm chức năng chuẩn và thử nghiệm chức năng tối đa. Đây là những Test vận động được dựa trên cơ sở sự biến đổi các chỉ số sinh lý, sinh hoá khi cơ thể thực hiện lượng vận động chuẩn hay lượng vận động tối đa.

          Đây là nhóm Test rất đa dạng, phong phú. Phụ thuộc vào mục đích kiểm tra các Test phân thành Test kiểm tra chức năng hô hấp, Test tuần hoàn, Test chức năng thần kinh, thần kinh cơ, Test đánh giá năng lực vận động .Các Test nhân trắc :

          Nhằm đánh giá sự phụ thuộc của thành tích thể thao  với cấu trúc giải phẫu của cơ thể. Dựa vào đặc điểm hình thái này cho phép đánh giá mức độ phát triển thể lực, trình độ  tập luyện  và khả năng thích ứng của cơ thể trong tập luyện .

            +Các phương pháp kiểm tra cận lâm sàng: là phương kiểm tra chức năng cơ thể bằng các loại máy móc

                                   

Câu 4. Khái niệm, nhiệm vụ và nội dung các phương pháp ứng dụng trong kiểm tra mức độ phát triển thể lực?.

          Đáp án:

          - Khái niệm:

          Mức độ phát triển thể lực là một tổ hợp các tính chất về hình thái và chức năng của cơ thể xác định (quy định) khả năng hoạt động thể lực của cơ thể. Như vậy mức độ phát triển thể lực không chỉ bao hàm các đặc tính hình thái mà còn cả khả năng chức phận của cơ thể.

          Mức độ phát triển thể lực chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên trong, yếu tố bên ngoài và các yếu tố kinh tế - xã hội.

          Việc đánh giá mức độ phát triển thể lực có giá trị to lớn trong việc xác định kết quả của vệ sinh xã hội cũng như đối với y học thể thao.

          Nghiên cứu mức độ phát triển thể chất thường được tiến hành bằng cách đo đạc các thông số hình thái và đánh giá chúng theo nhóm tuổi.

          - Nhiệm vụ:

          + Đánh giá sự tác động của hệ thống của các bài tập thể chất với mức độ phát triển thể lực của người tập, xác định những ảnh hưởng dương tính và âm tính với thể trạng nhằm lựa chọn phương tiện và phương pháp tập luyện.

          + Tuyển chọn và định hướng cho trẻ em tới các môn chuyên sâu phù hợp.

          + Kiểm tra mức độ phù hợp của quá trình phát triển thể chất theo từng giai đoạn, chu kỳ, lứa tuổi tập luyện.

          + Nghiên cứu những đặc điểm hình thái, chức năng của cá thể để có định hướng cho chuẩn bị vận động viên.

          * Các phương pháp ứng dụng:

          Để đánh giá mức độ phát triển thể lực người ta sử dụng 2 phương pháp cơ bản đó là: quan sát và nhân trắc. Ngoài ra có thể kết hợp với phương pháp chụp ảnh, chụp chiếu X- quang.

 + Khái niệm phương pháp quan sát: Là sử dụng thị giác trên cơ sở hiểu biết về hình thái giải phẫu học và kinh nghiệm của  bản thân người kiểm tra để dánh giá trạng thái sức khỏe và mức độ phát triển thể chất của người tham gia tập luyện TDTT.

           Phương pháp quan sát bao gồm các nội dung:

          - Quan sát tư thế thân người.

          - Quan sát tư thế đầu.

          - Quan sát dáng lưng.

          - Quan sát dáng ngực.

          - Quan sát dáng bụng.

          - Quan sát hình dáng tay.

          - Quan sát hình dáng chân.

          - Quan sát cung bàn chân.

          - Đánh giá mức độ phát triển cơ bắp.

          + Khái niệm phương pháp nhân trắc: Nhân trắc là phương pháp  sử dụng các dụng cụ đo người để đo đạc các thông số  cần thiết trên cơ thể người, nhằm đánh giá mức dộ phát triển thể chất và trạng thái sức khỏe  của những người tham gia tập luyện TDTT.

          Phương pháp nhân trắc cho phép thu nhận những thông số hình thể một cách khách quan và bổ sung cho phương pháp quan sát. Các thông số thường dùng là: chiều cao đứng, ngồi; trọng lượng cơ thể; khoảng cách - độ rộng vai; chu vi cổ, vòng ngực hịt vào và thở ra, vòng cánh tay, vòng đùi, vòng cẳng chân; độ dài tứ chi, các bộ phận riêng biệt; đo độ dày lớp mỡ dưới da, xác định trọng lượng tích cực của cơ thể.

Câu 5. Phương pháp đánh giá mức độ phát triển thể lực theo sơ đồ nhân trắc?

Đáp án:

- Mục đích: để số liệu thu được đảm bảo độ chuẩn xác và tính thông báo cao.

- Những điều chú ý:

+ Ánh sáng: đảm bảo ánh sáng tự nhiên.

+ Địa điểm: đủ ẩm, thoáng, kín đáo với phụ nữ.

+ Thời gian: đo ở một thời điểm thống nhất trong ngày giữa các lần đo và tốt nhất đo vào buổi sáng.

+ Dụng cụ: phải đảm bảo tiêu chuẩn, thống nhất qua các lần kiểm tra

+ Phương pháp:

          * Thống nhất theo một phương pháp nhất định.

          * quan sát, đo đối xứng.

          * Trình tự thống nhất.

+ Người được kiểm tra: phải mặc ít quần áo sao cho có thể đo trực tiếp.

          Từ các số liệu đo đạc ta có thể đánh giá sự phát triển thể lực theo 2 phương pháp chính: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp.

          Phương pháp trực tiếp:

•-         Phương pháp so sánh thống kê là so sánh số liệu thu được trực tiếp với chỉ số tiêu chuẩn để đánh giá . Đồng thời dựa vào  số  trung bình và phương  sai của các bảng thống kê để phân loại mức độ phát triển thể lực được đánh giá như sau :

          * Phát triển thể chất được coi là bình thường nếu kết quả thu được khi (Xi) nằm trong khoảng Xi =  ± .

            *Phát triển thể chất trên hoặc dưới trung bình khi: Xi  nằm trong khoảng  ±  < Xi <  ± 2 .

          * Mức phát triển thể chất quá cao hoặc quá thấp khi thông số thu được khi:  xi>  ± 2 .

          Có thể biểu diễn kết quả này trên đồ thị, theo đó có thể nhận thấy thông số nào cao hơn và  thông số nào thấp hơn chỉ số trung bình cộng trong thống kê. Mức độ sai số được biểu thị bằng đại lượng độ lệch chuẩn ( ).

          - Phương pháp đối chiếu với đường cong nhân trắc trên đồ thị, trong đó chỉ ra vùng phát triển trung bình, vùng phát triển trên trung bình và vùng phát triển dưới trung bình.

          Ưu và khuyết điểm: tuy phương pháp cho phép đánh giá nhanh, không cần tính toán song không đánh giá được sự phát triển cân đối và tương quan giữa các chỉ số nhân trắc khác nhau có sự liên quan, bởi vì các chỉ số được đánh giá một cách độc lập, tách rời.

          Phương pháp gián tiếp:

          Là phương pháp tính toán các chỉ số từ các số đo có sự liên hệ mật thiết. Có rất nhiều chỉ số khác nhau. Đây là phương pháp xem  xét tổng hợp mối liên hệ giữa các chỉ tiêu số liệu trên cơ sở đó để đi đến kết luận.

          Chỉ số Broca - Brugoh : Là chỉ số phản ánh mối liên hệ giữa trọng lượng (P) và chiều cao (h) đo bằng cm.

          P = h - 100(kg) khi h trong khoảng 155-165 cm

          P = h - 105 (kg) khi h trong khoảng 166 - 175cm

          P = h - 110 (kg) khi h trong khoảng > 176 cm

          Chỉ số Ketle : Chỉ số phản ánh  sự phát triển cân đối giữa cân nặng với chiều cao được tính theo công thức :

                             Cân nặng (g)

                             Chiều cao (cm)

          Kết quả được đánh giá là trung bình với khoảng 370-400(g/cm) đối với nam, và 325-375 đối với nữ,  với trẻ nam 15 tuổi là 325 và trẻ nữ 15 tuổi là 318 g/cm. Chỉ số này trong nhiều  tài liệu chuyên khảo được gọi là chị số Guetelet. Nếu chỉ số thu được lớn hơn chỉ số ketle chứng tỏ cơ thể béo thừa trọng lượng.

          Chỉ số Pi-nhê: Là chỉ số đánh giá mối tương quan giữa chiều cao với cân nặng và chu vi vòng ngực đánh giá sự phát triển chung của cơ thể .  Được tính theo công thức

                   Pi = h - (P + V)

          Trong đó Pi  - chỉ số Pi-nhê, h - chiều cao (cm) ; V - vòng ngực trung bình (cm), P là cân nặng .

          Kết quả được đánh giá như sau : Nếu Pi dưới 10 - thể lực rất tốt ; Pi = 10-20 - thể lực tốt ; Pi = 20-25 - thể lực trung bình ; Pi = 25 - 35 - thể lực yếu ; Pi>35- thể lực rất yếu.

          Chỉ số QVC : Hay còn gọi là chỉ số quay vòng cao của giáo sư Nguyễn Quang Quyền, được nghiên cứu trên đối tượng tuổi từ 18 đến 25. Đây cũng là chỉ số đánh giá tỷ lệ giữa chiều cao với bề ngang cơ thể, được tính theo công thức :

Q = Chiều cao (cm) - vòng ngực hít vào + vòng đùi thuận + vòng cánh tay co).

          Kết quả được đánh giá như sau :

          Q < - 4 - cực khoẻ          8 - 14 trung bình

          - 4 - 1,9 - rất khoẻ           15 - 20 - yếu

          2 - 7,9- khoẻ                             > 20 - rất yếu.

          Chỉ số Erisman : Đây là chỉ số đánh giá mối quan hệ giữa chu vi vòng ngực với chiều cao. Được tính theo công thức.

          A = Chu vi vòng ngực TB -  1/2 cao.

          Kết quả được đánh giá là trung bình nếu A = 5,8 đối với nam và A = 3,8 đối với nữ. Chỉ số này trong một số tài liệu còn được gọi là chỉ số Alio-man, vì thế có ký hiệu là A.

          Chỉ số thu được nếu bằng hoặc lớn hơn chứng tỏ lồng ngực phát triển tốt và ngược lại nhỏ hơn chưngs tỏ lồng ngực hẹp , chức năng sinh lý của cơ quan hô hấp kém.

     

          Chỉ số dung tích sống: Để đánh giá dung tích sống , được tính bằng tỷ số giữa dung tích sống trên trọng lượng cơ thể theo công thức sau.

                   S =

          Đánh giá kết quả : Đối với nam trung bình 65-70ml/kg , nữ trung bình 55 -60ml/kg .

          Nếu chỉ số đo được lớn hơn chứng tỏ dung tích sống tốt , nhỏ hơn chứng tỏ dung tích sống thiếu .

        Chỉ số thân:chiều cao ngồi (cm)´  100 / chiều cao đứng(cm)

Dánh giá kết quả:

_Người có thân ngắn = 51

_Người có thân dài=53

_Người có thân trung bình =51-52,9

       3.7.Chỉ số manuvrie= Dài chân ´100 / chiều cao  ngồi

Đánh giá kết quả:

Chân ngắn=84,9

Chân trung bình=85-89

Chân dài từ 90 trở lên

Chỉ số dung tích sống=DTS ´ 100 / cân nặng(kg)

VĐV nữ57-60ml/kg

VĐV nam61-70ml/kg

        Chỉ số sức mạnh=lực bóp tay(kg) ´ 100 / cân nặng(kg)

Đánh giá kết quả :

Nữ:60-70%

Nam:70-80 %

          Chỉ số BMI (Body Mas Index) là chỉ số được đánh giá thể trạng cơ thể thông qua mối quan hệ giữa cân nặng với chiều cao cơ thể

   BMI= Cân nặng / chiều cao bình phương trong dó cân nặng tính theo kg và chiều cao tính theo đơn vị mét

Kết quả đánh giá (theo tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế giới WHO dành cho người châu á)

   Gầy <18,5

Bình thường 18,5 -24,9

Thừa cân      25

Tiền béo phì 25 -29,9

Béo phì độ I 30 - 34,9

Béo phì độ II 35 - 39,9

Béo phì độ III 40

-Dưới 20 : quá gầy trừ là VĐV cần vóc người thanh mảnh

Từ 20 -đến 22: Gỗy và điều này kéo theo nhiều căn bệnh.Rất dễ ốm

Từ 22 -đến 25:Cơ thể cân đối khoẻ mạnh

Ngân Hàng Câu Hỏi | Góp ý (0) | Chỉnh sửa | Bản inBản in

NGÂN HÀNG CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN MÔN XOA BÓP VÀ THỂ DỤC CHỮA BỆNH ( Dành cho SV Trường DDH TDTTBN )

Published on 18:36, 04/20,2009

 

Câu 1. Khái niệm và phân loại xoa bóp?

Câu 2. Cơ chế tác động của xoa bóp đối với cơ thể?

Câu 3. Tác dụng của xoa bóp đối với các hệ cơ quan?

Câu 4. Chỉ định và chống chỉ định của xoa bóp?

Câu 5. Tác dụng sinh lý và kỹ thuật xoa vuốt?

Câu 6. Tác dụng sinh lý và kỹ thuật xoa miết?

Câu 7. Tác dụng sinh lý và kỹ thuật nhào cơ?

Câu 8. Tác dụng sinh lý và kỹ thuật xoa xát?

Câu 9. Tác dụng sinh lý và kỹ thuật hoạt động bao khớp?

Câu 10. Tác dụng sinh lý và kỹ thuật động tác đấm, chém, vỗ và mổ?

Câu 11. Tác dụng sinh lý và kỹ thuật động tác rung cơ?

Câu 12. Xoa bóp các bộ phận cơ thể?

Câu 13. Xoa bóp điều chỉnh trạng thái trước vận động?

Câu 14. Phương pháp xoa bóp thay cho khởi động?

Câu 15. Xoa bóp hồi phục?

Câu 16. Những nguyên tắc chung của xoa bóp?

Câu 17. Khái niệm, ưu điểm, nhược điểm của phương pháp tự xoa bóp?

dụng chính của xoa bóp hồi phục.

Câu 18. Khái niệm xoa bóp hồi phục trong thể thao? Trình bày sơ đồ tác

Câu 19: Khái niệm và lịch sử phát triển thể dục chữa bệnh?.

Câu 20: Cơ chế tác động của TDCB?.

Câu 21: Tác dụng của TDCB?.

Câu 22: Các hình thức cơ bản của TDCB?.

Câu 23: Đặc điểm của TDCB?.

Câu 24: Các thời kỳ áp dụng bài tập TDCB?.

Câu 25: Nguyên tắc chung của TDCB?

Câu 26: Phương pháp tổ chức buổi tập TDCB?.

Câu 27: Phương pháp lựa chọn động tác của bài tập TDCB?.

Câu 28: Nguyên nhân, phân loại và mức độ cong vẹo cột sống?.

Câu 29: Phương pháp đề phòng và chữa cong vẹo cột sống?.

Câu 30: Khái niệm và các giai đoạn áp dụng TDCB nội khoa?.

Câu 31: Chỉ định và chống chỉ dịnh áp dụng TDCB tim mạch?.

Câu 32: Phương pháp phòng và chữa bệnh huyết áp cao?

Câu 33: Cơ chế tác động của bài tập TDCB hô hấp?.

Câu 34: Đặc điểm của TDCB hô hấp?.

Câu 35: Các giai đoạn của TD chữa chấn thương 

Câu 36: Các giai đoạn của TD chữa chấn thương  phần mềm

Câu 37: Các giai đoạn của TD chữa chấn thương  phần cứng     

Câu 38.Cơ chế tác động chữa bệnh của các bài tập TDCB hệ tiêu hoá?.

Câu 39: Cơ sở của phương pháp chữa bệnh tiêu hoá bằng TDCB?.

Câu 40: Phương pháp áp dụng TDCB thần kinh ngoại vi?.

Câu 41: Phương pháp áp dụng TDCB thần kinh trung ương?.

NGÂN HÀNG CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN MÔN

XOA BÓP VÀ THỂ DỤC CHỮA BỆNH

Câu 1. Khái niệm và phân loại xoa bóp?

          Đáp án:

          Khái niệm xoa bóp: xoa bóp là sự kích thích cơ học bằng tay hoặc bằng máy móc, dụng cụ chuyên dùng lên cơ thể con người một cách có liều lượng, từ đó cơ thể sản sinh phản ứng đáp ứng. Thông qua phản ứng đáp ứng mà có tác dụng chữa bệnh, phòng bệnh và tăng cường sức khỏe.

          Phân loại xoa bóp:

          - Căn cứ vào trường phái chia xoa bóp thành:

          + Xoa bóp đông y.

          + Xoa bóp tây y.

          - Căn cứ vào mục đích chia xoa bóp thành:

          + Xoa bóp chữa bệnh.

          + Xoa bóp phòng bệnh.

          + Xoa bóp thể thao.

          + Xoa bóp.

          - Căn cứ vào phương tiện chia xoa bóp thành:

          + Xoa bóp bằng tay.

          + Xoa bóp bằng dụng cụ.

          + Xoa bóp bằng máy.

          + Xoa bóp bằng nước.

- Căn cứ vào hình thức chia xoa bóp thành: 

+ Xoa bóp chuyên môn.

+ Xoa bóp lẫn nhau.

+ Tự xoa bóp.

Câu 2. Cơ chế tác động của xoa bóp đối với cơ thể?

          Đáp án:

          - Yếu tố thần kinh:

          Trước hết xoa bóp tác động đến các đầu mút thần kinh nằm ở các khớp khác nhau của da. Các kích thích do xoa bóp tạo ra được cơ quan cảm thụ ở da, các cơ quan cảm thụ nằm trong gân, cơ, bao khớp, dây chằng (cơ quan cảm thụ bản thể), các cơ quan cảm thụ của thành mạch (cảm thụ thể mạch) tiếp nhận và theo các dây thần kinh cảm giác (hướng tâm) truyền các xung động về hệ thần kinh trung ương (não và tủy sống). Tại đây chúng tổng hợp thành một phản ứng phức tạp và gây ra những chuyển biến chức năng khác nhau trong cơ thể. Ví dụ tác động phản xạ thần kinh của xoa bóp có thể gây nên những thay đổi hoạt động của tim, phổi và các cơ quan nội tạng khác qua hệ thống ly tâm của da (phản xạ nội tạng, của cơ phản xạ cơ-nội tạng) và của các tổ chức khác. Liều lượng, tính chất của các phương pháp xoa bóp sẽ gây ra những phản ứng khác nhau của cơ thể. Điều này còn tùy thuộc vào trạng thái tần kinh trung ương vào khả năng tiếp nhận kích thích thần kinh ngoại biên của người được xoa bóp.

          - Yếu tố thể dịch:

          Xoa bóp tạo thành histamin rất nhanh, ngoài ra xoa bóp còn giúp cho chất axetylcholin có trong tế bào dưới dạng keo không hoạt động chuyển sang trạng dạng hòa tan hoạt động. Axetelcholin có vai trò rất quan trọng trong việc dẫn truyền hưng phấn thần kinh từ tế bào thần kinh này sang tế bào thần kinh khác và nó tạo điều kiện hoạt động cho hệ cơ xương. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy sau khi xoa bóp có hiện tượng rút ngắn thời gian tiềm phục của sự co cơ. Điều này có thể giải thích do ảnh hưởng của cả yếu tố thần kinh và thể dịch. Xoa bóp ảnh hưởng đến các tuyến nội tiết và từ đó tác động đến các cơ quan trong cơ thể.

          - Yếu tố cơ học:

          Tăng tuần hoàn máu, bạch huyết, dịch gian bào...Thải bỏ các tế bào sừng của da, khắc phục các hiện tượng xung huyết và thúc đẩy hô hấp ở da của vùng cơ thể được xoa bóp.

Câu 3. Tác dụng của xoa bóp đối với các hệ cơ quan?

          Đáp án:

          - Tác dụng của xoa bóp đối với hệ thần kinh:

          + Hệ thần kinh đảm bảo tính thống nhất của các hệ cơ quan trong cơ thể và thống nhất giữa cơ thể và môi trường.

          + Tác dụng phản xạ của xoa bóp đối với thần kinh trung ương theo quan điểm I.P Paplov.

          + Tùy theo đặc điểm tính chất cảu các phương pháp xoa bóp và tính chất kích thích của cơ quan cảm thụ nơi được xoa bóp mà tác dụng của nó đối với hệ thần kinh sẽ khác nhau.

          Nếu cường độ kích thích lớn, tần số đều hoặc không đều, thời gian ngắn sẽ gây hưng phấn mạnh.

          Nếu kích thích với cường đội trung bình, tần số hoặc không đều, thời gian dài hệ thần kinh sẽ gây hưng phấn.

          + Xoa bóp còn làm các tổ chức mềm tiết ra một số loại axit amin tham gia cấu tạo các loại thần kinh thể dịch như axetylcho lin, adrenalin làm tăng cường chức năng của hệ thần kinh dinh dưỡng chi phối chức năng của cơ quan nội tạng.

          - Tác dụng của xoa bóp đối với da:

          + Xoa bóp làm bong các tế bào già ở da tạo điều kiện cho tuyến mồ hôi và tuyến mỡ làm việc tốt hơn.

          + Xoa bóp làm cải thiện tuần hoàn máu ở da.

          + Xoa bóp làm tăng trương lực cơ ở da.

          + Xoa bóp làm tăng nhiệt độ ở da.

          + Xoa bóp làm tăng khả năng thích nghi với môi trường của da (nhiệt độ và lực cơ học).

          - Tác dụng của xoa bóp đối với hệ cơ:

          + Xoa bóp tác dụng tăng tính linh hoạt thần kinh cơ.

          + Xoa bóp tác dụng tăng cường dinh dưỡng các sợi cơ.

          + Xoa bóp tác dụng tăng tăng tính linh hoạt cơ năng ,co bóp, tính đàn hồi của bộ máy thần kinh cơ.

          + Xoa bóp tác dụng tăng số lượng mao mạch tham gia hoạt động.

          - Tác dụng của xoa bóp đối với các khớp, dây chằng và cân:

          + Đặc điểm cấu tạo của khớp.

          + Xoa bóp làm tăng sự cung cấp máu đến khớp xương, dây chằng và bao khớp, làm tăng quá trình hình thành hoạt dịch và luôn luôn giữ vững tính đàn hồi của dây chằng.

          +  Xoa bóp là biện pháp rất tốt để đề phòng chấn thương khớp.

          +  Xoa bóp làm tăng biên độ hoạt động của khớp.

          - Tác dụng của xoa bóp đối với hệ tuần hoàn và bạch huyết:

          + Vai trò của tuần hoàn và bạch huyết.

+ Xoa bóp làm tăng tốc độ lưu thông của máu và bạch huyết.

+ Xoa bóp làm tăng quá trình động lực máu (quá trình động lực của máu có bốn yếu tố: tim mạch, ngoài tim và trao đổi chất).

+ Xoa bóp làm giảm cản trở tuần hoàn máu ngoại biên từ đố làm cho huyết áp giảm.

+ Xoa bóp làm tăng chức năng miễn dịch của cơ thể.

- Tác dụng của xoa bóp với hệ hô hấp:

+ Xoa bóp làm cho các tế bào ở da bong ra, các chất mỡ và tế bào chết được loại bỏ làm cho da sạch, mềm mại dẫn đến sự hấp thu O2 tốt hơn.

+ Xoa bóp ở ngực và sườn gây được trạng thái thở sâu, đồng thời làm mất sự mệt mỏi của cơ hô hấp.

+ Xoa bóp kích thích thần kinh cơ hô hấp làm tăng biên độ hô hấp tăng dung tích sống, giảm tần số hô hấp.

+ Xoa bóp có tác dụng phong và chữa được một số bệnh thuộc hệ hô hấp.

- Tác dụng của xoa bóp đối với sự tiêu hóa:

+ Xoa bóp tăng tuần hoàn máu ở cơ quan tiêu hóa, tăng nhu động ruột.

+ Xoa bóp làm tăng tiết dịch tiêu hóa.

+ Xoa bóp làm tăng khả năng vận chuyển thức ăn trong ống tiêu hóa.

+ Xoa bóp tác dụng đề phong và chống các bệnh táo bón đầy bụng.

- Tác dụng của xoa bóp đối với trao đổi chất và bài tiết:

+ Xoa bóp tác dụng đến tốc độ đào thải axit lactic ra khỏi cơ thể sau hoạt động cơ bắp.

+ Xoa bóp giúp cho quá trình trao đổi chất tăng lên.

+ Xoa bóp có tác dụng đào thải nước ra khỏi cơ, khi xoa bóp nhẹ sẽ làm mất hiện tượng phù nề.

+ Xoa bóp tăng cường chức năng điều tiết của thần kinh dinh dưỡn giúp cho quá trình chuyển hóa đường, đạm, mỡ được thuận lợi, giảm lượng mỡ dự trữ.

+ Xoa bóp làm giảm lượng colesteron trong máu từ đó phòng chữa được bệnh xơ vữa mạch máu.

Câu 4. Chỉ định và chống chỉ định của xoa bóp?

          Đáp án:

          - Chỉ định: có thể xoa bóp cho tất cả người khỏe mạnh song cần chú ý đến tuổi, giới tính và phản ứng của hệ thần kinh.

          - Chống chỉ định:

          + Không xoa bóp khi sốt cao trên 3705.

          + Không xoa bóp khi bị các bệnh cấp tính.

          + Không xoa bóp những bộ phận bị bệnh ngoài da.

          + Không xoa bóp những bộ phận có dị vật như mảnh bom đạn.

          + Không xoa bóp vào những bộ phận mà xương có hiện tượng bị canxi hóa.

          + Không xoa bóp khi phụ nũ đang bị hành kinh (vùng bụng và thắt lưng).

`        + Không xoa bóp khi đang mang thai.

          + Không xoa bóp khi bị bệnh gan, thận hoặc ung thư.

Câu 5. Tác dụng sinh lý và kỹ thuật xoa vuốt?

          Đáp án:

          + Xoa vuốt là kỹ thuật cơ bản của xoa bóp thể thao và xoa bóp chữa bệnh được thực hiện nhẹ nhàng trên mặt da.

          + Xoa vuốt trên mặt da làm cho các tế bào già, các vảy khô được tróc ra làm tăng sự hô hấp của da, tăng trương lực cơ ở da, chức năng co giãn của da cũng được tăng lên.

          + Xoa vuốt là động tác thể dục của mạch máu dưới da (tăng số mao mạch tham gia hoạt động, tăng độ co dãn mạch máu).

          + Xoa vuốt làm tăng nhiệt độ ở da.

          + Xoa vuốt nhẹ có tác dụng ức chế.

          + Xoa vuốt nặng có tác dụng hưng phấn bởi vậy có tác dụng điều chỉnh trạng thái của vận động viên.

          + Động tác xoa vuốt được thực hiện bằng mặt phẳng trong của lòng bàn tay, các ngón tay thả lỏng hoàn toàn. Bốn ngón tay khép lại hơi cong và ngón cái được mở ra bàn tay ôm lấy phần được xoa bóp một cách tối đa.

          Có hai loại: xoa vuốt nhẹ và xoa vuốt nặng. Xoa vuốt là động tác mở đầu và kết thúc một buổi xoa bóp.

Câu 6. Tác dụng sinh lý và kỹ thuật xoa miết?

          Đáp án:

          Tác dụng sinh lý: xoa miết là động tác quan trọng, trong xoa bóp thể thao, xoa bóp vệ sinh và xoa bóp chữa bệnh xoa miết chiếm 60% trong tổng số thời gian của buổi xoa bóp.

          Xoa miết được thực hiện trên mặt da sâu và lớp mỡ dưới da đến mặt trên cùng của lớp cơ.

          Xoa miết giúp cho sự lưu thông mạch máu và bạch huyết.

          Xoa miết lằm tăng quá trình trao đổi chất.

          Xoa miết làm giảm trương lực cơ nên được sử dụng nhiều trong xoa bóp hồi phục.

          Xoa miết được sử dụng trấn thương.

          Xoa miết làm tăng nhiệt độ.

          - Kỹ thuật xoa miết: trong xoa miết có thể thực hiện động tác miết bằng cạnh ngón tay phía ngón tay út, phía ngón tay cái, hoặc xoa miết bằng cùi tay. Xoa miết có thể dùng một tay hoặc hai tay.

          - Phương pháp thực hành:

          + Động tác chậm rãi.

          + Cơ được xoa bóp phải thả lỏng.

          + Để tạo lực mạnh cần có sự hỗ trợ bằng hai tay.

          + Áp lực lên bộ phần được xoa bóp tùy thuộc vào khối lượng cơ.

          + Khi thực hiện xoa bóp với áp lực lớn không được tạo cảm giác đau.

Câu 7. Tác dụng sinh lý và kỹ thuật nhào cơ?

Đáp án:

          - Tác dụng sinh lý: nhào cơ là một trong những động tác chính trong loại hình xoa bóp. Trong xoa bóp thể thao nó chiếm 60% tổng thời gian. Còn trong xoa bóp khởi động và hồi phục chiếm 80%.

          + Xoa bóp tăng cường tuần hoàn máu cục bộ nơi được xoa bóp.

          + Nhào cơ tăng kích thích thần kinh cơ, tăng quá trình trao đổi chất giúp cho quá trình hồi phục ôxy nhanh hơn, tăng dinh dưỡng nuôi cơ.

          + Nhào cơ tăng số lượng mao mạch tham gia hoạt động làm giảm sự căng cơ và hồi phục khả năng hoạt động của cơ.

          + Nhào cơ làm tăng hưng phấn của hệ thần kinh trung ương gây hưng phấn toàn bộ cơ thể.

          + Nhào cơ làm tăng hoạt động hô hấp, tăng tần số hoạt động của tim.

          + Nhào cơ làm tăng nhiệt độ từ 3-40.

          Tóm lại: nhào cơ làm tăng dinh dưỡng cục bộ, hồi phục mệt mỏi, thả lỏng cơ và điều chỉnh hưng phấn thần kinh.

          - Kỹ thuật nhào cơ: bàn tay mở rộng, dạng ngón cái còn bốn ngón kia khép vào với nhau đặt tay lên bộ phận được xoa bóp, dùng 5 ngón tay véo thịt lên, khi véo các ngón tay không được co lại, xong đẩy nhóm cơ véo lên sang bên trái hoặc sang phải, xong đè cơ xuống, 5 ngón tay từ từ duỗi ra như ở tư thế ban đầu xong lại miết tay xuống cơ của bộ phần xoa bóp tiến hành véo cái thứ 2 cứ như vậy tiến hành.

          Chú ý: khi véo các ngón tay phải duỗi thẳng và không được rời khỏi da, xoay theo chiều kim đồng hồ (nếu là tay phải); nếu nhào cơ bằng hai tay thì theo hai đường vòng ngược nhau.

          - Phương pháp thực hành:

          + Động tác nhào cơ thực hiện chậm rãi, uyển chuyển, không có sự nghỉ giữa các động tác, không được vặn và xoay cơ, không tạo cảm giác đau cho người được xoa bóp.

          + Để tọa sự thích nghi cần phải tăng dần độ và lực cho mỗi động tác trên từng nhóm cơ.

          + Khi nhào cơ không được làm đau xương.

Câu 8. Tác dụng sinh lý và kỹ thuật xoa xát?

Đáp án:

          - Tác dụng sinh lý:

          + Tăng nhiệt độ  từ 1-5 0  và tăng áp lực ở nơi xoa bóp.

          + Tăng kích thích cơ quan cảm thụ mạch máu làm giãn mạch, làm máu vận chuyển nhanh hơn.

          + Tăng lượng ôxy, tăng hồng huyết cầu và dinh dưỡng, tăng độ mềm dẻo của các dây chằng bao khớp, tăng tiết dịch khớp.

          - Kỹ thuật:

          Xoa xát bằng các đầu ngón tay, xoa xát bằng ngón tay cái, xoa xát bằng cùi tay, xoa xát bằng hai tay hoặc một tay.

          - Khi thực hiện mọi động tác xoa xát tuyệt đối không được làm trên hạch bạch huyết. Chuyển động của xoa xát cần theo hướng chuyển động của bạch huyết. Cận chọn lựa từng kỹ thuật xoa xát lên các bộ phận cơ thể cho thích hợp

Câu 9. Tác dụng sinh lý và kỹ thuật hoạt động bao khớp?

          Đáp án:

          - Tác dụng sinh lý:

          + Tăng tuần hoàn máu và bạch huyết, tăng bài tiết của màng hoạt dịch.

          - Kỹ thuật của hoạt động bao khớp:

          + Hoạt động tích cực.

          + Hoạt động phản kháng.

          + Hoạt động thụ động.

          - Phương pháp thực hành:

          + Hoạt động thụ động và phản ứng chỉ thực hiện ở khớp.

          + Hoạt động tích cực cần phải xác định được biên độ động tác.

          + Hoạt động bao khớp không gây cảm giác đau.

          + Cơ và dây chằng của khớp phải được chuẩn bị tốt trước khi thực hiện động tác hoạt động bao khớp.

          + Khi tiến hành hoạt động cần kiểm tra trước các chỉ tiểm để biết được các phản ứng.

Câu 10. Tác dụng sinh lý và kỹ thuật động tác đấm, chém, vỗ và mổ?

          Đáp án:

          - Tác dụng sinh lý:

          + Làm tăng lượng máu đến nơi được xoa bóp.

          + Tăng quá trình trao đổi chất ở tế bào.

          + Tăng sức co cơ, tăng sức mạnh.

          + Tăng sự xung huyết, tăng trương lực cơ.

          + Tăng hoạt động mạch máu và thần kinh.

          - Kỹ thuật động tác:

          + Đấm.

          + Chém.

          + Vỗ và mổ.

          - Phương pháp thực hành:

          + Các động tác được thực hiện trên các cơ to trừ mặt trong đùi.

          + Động tác phải nhịp nhàng và không gây đau.

          + Khi thực hiện phải điều chỉnh cường độ tùy theo yêu cầu và mục đích xoa bóp. Muốn tăng trương lực cơ phải xoa bóp 3-4 lần trong ngày.

          + Động tác phải thực hiện lần lượt bằng hai tay và hai tay cách nhau 5cm với nhịp độ 1-3 giây.

Câu 11. Tác dụng sinh lý và kỹ thuật động tác rung cơ?

Đáp án:

          - Tác dụng:

          Giúp cho máu và bạch huyết chuyển động nhanh hơn, giúp cho dịch gian bào được phân bố đồng đều, có ảnh hưởng như an thần đối với hệ thần kinh trung ương, cơ thả lỏng và giảm sự căng cơ.

          - Kỹ thuật động tác:

          + Động tác rung cơ.

          + Động tác rũ cơ.

          + Động tác lăn cơ.

          - Phương pháp thực hành:

          + Cơ được lắc bằng ngón tay cái và ngón tay út, các ngón khác nâng lên, muốn làm được động tác tốt thì bàn tay phải dao động nhanh tần số 12-15 lần trong 2 giây.

          + Cơ của người xoa bóp và xoa bóp viên phải hoàn toàn thả lỏng.

Câu 12. Xoa bóp các bộ phận cơ thể?

          Đáp án:

          - Thứ tự thực hiện động tác:

          + Xoa vuốt nhẹ.

          + Xoa vuốt nặng.

          + Xoa miết.

         + Xoa xát.

          + Xoa nhào cơ.

        + Rung động.

          + Đấm, chém, vỗ, mổ,vê

         + Xoa lắc

          + Xoa vuốt nặng.

           + Xoa vuốt nhẹ.

          + Bị động hoạt động.

          - Xoa bóp được bắt đầu từ phần cao nhất của cơ thể vì có như vậy mới  giúp cho vòng tuần hoàn và bạch huyết nhanh chóng vận chuyển ví dụ: nếu xoa bóp toàn thần thì xoa bóp bắt đầu từ lưng, nếu chân thì từ đùi, nếu tay thì từ vai.


1 2 3 4  Sau»