CÁC TUYẾN TIÊU HÓA

 

CÁC TUYẾN TIÊU HOÁ

I. TUYẾN GAN.

1. Vị trí:

     Gan chủ yếu nằm ở vùng hạ sườn phải thùy trái lấn sang tới vùng thượng vị  và vùng hạ sườn trái ở ngang mức xương sườn  thứ V. 

Hình 39

2. Cấu tạo đại thể: Gan là một tuyến lớn nhất của cơ thể trọng lượng có thể tới 1 5kg có màu nâu đỏ trơn bóng gồm hai mặt là mặt trên và mặt dưới; hai bờ là bờ trước và bờ sau.

* Mặt trên(mặt hoành): Mặt này có mạc chằng liềm nằm theo chiều đứng dọc chia mặt trên ra làm 2 thùy:

                     - Thùy phải rộng

                     - Thùy trái hẹp

* Mặt dưới (mặt tạng): có ba rãnh: hai rãnh dọc và một rãnh ngang tạo thành hình chữ H chia mặt dưới làm bốn thuỳ: thuỳ phải thuỳ trái thuỳ vuông và thuỳ đuôi .

  - Rãnh dọc bên phải: Rộng nửa trước có túi mật nửa sau có tĩnh mạch chủ dưới.

  - Rãnh dọc bên trái: Hẹp là đường đi của dây chằng tròn của gan.

  - Rãnh ngang: Trong rãnh có rốn gan là nơi mạch máu thần kinh đi vào gan còn mạch bạch huyết và ống gan từ gan đi ra.

Hình 40 : Mặt dưới của gan

3- Cấu tạo vi thể của gan:

* Đơn vị cấu tạo của gan là các tiểu thuỳ gan:

- Mỗi tiểu thuỳ gan có cấu trúc gần giống hình lăng trụ bề ngang từ 1-2mm ở giữa là tĩnh mạch trung tâm.

 - Mỗi tiểu thuỳ gan lại được cấu tạo bởi những bè gan xếp theo hình nan hoa toả từ tĩnh mạch trung tâm (tiểu thùy) ra xung quanh.

- Các bè gan được họp bởi hai hàng tế bào biểu mô ở giữa có một mao quản mật xung quanh được bao bọc bởi một lưới mạch máu. Các bè gan chính là những tuyến ống để tạo thành gan. Giữa 2  bè gan có mao động mạch và tĩnh mạch cửa kết hợp với nhau hình thành hốc mạch máu gan.

- Tế bào gan có khả năng tiết ra mật: chất mật đó đổ vào mao quản mật rồi vào các đường dẫn mật nằm giữa các tiểu thuỳ từ đó theo hai ống gan phải và trái đổ vào ống mật chung rồi vào túi mật.

Hình 41 : Cấu tạo vi thể của gan

4-Mạch máu của gan.

  * Máu đi tới gan: là động mạch gantĩnh mạch cửa:

  * Máu từ gan ra chính là tĩnh mạch gan

     - Động mạch gan là một nhánh của động mạch thân tạng đi vào gan để nuôi dưỡng gan.

    - Tĩnh mạch cửa đem máu tĩnh mạch nhận từ dạ dày lá lách ruột tụy vào gan để giải độc một số sản phẩm

  * Đường đi:

- Động mạch gan và tĩnh mạch cửa vào gan qua rốn gan từ đó chia làm hai nhánh phải và trái. Các nhánh này lại phân thành các nhánh nhỏ hơn đi vào giữa các tiểu thuỳ gan nằm cùng với ống mật gọi là mạch máu gian tiểu thuỳ. Các mạch máu gian tiểu thuỳ lại tiếp tục phân nhánh vào trong các tiểu thuỳ và cuối cùng đổ vào mạng mao mạch ở giữa các tế bào của tiểu thuỳ (hốc mạch máu gan) để thực hiện sự trao đổi chất.

-  Sau đó máu lại từ những mao mạch đổ vào tĩnh mạch trung tâm tiểu thuỳ. Nhiều tĩnh mạch trung tâm tiểu thuỳ họp với nhau thành các tĩnh mạch gan đổ vào tĩnh mạch chủ dưới.

     Nhánh động mạch gan nhánh của tĩnh mạch cửa và  tiểu quản mật được gọi là bộ ba cửa.

5-Chức năng của gan.

a. Tiết dịch mật: Người trưởng thành mỗi ngày tiết ra một lượng khoảng 500 - 1000ml. Dịch mật là dịch quan trọng nhất trong các dịch tiêu hoá có thể tiêu hoá được mỡ  và các vật chất có nguồn gốc từ mỡ (cùng với dịch tụy).

b. Tham gia trao đổi vật chất trong cơ thể: Tế bào gan có thể chuyển hoá glucoza dư thừa trong máu thành đường glycogen dự trữ tồn tại trong gan đợi tới khi cơ thể cần nó lại được huy động đổ vào máu đi cung cấp cho cơ thể.

c. Tác dụng giải độc: Trao đổi các chất trong cơ thể sẽ bị nhiễm độc song thông qua quá trình ôxi hoá phân giải kết hợp...của tế bào gan có thể giải độc hoặc làm ­giảm tính độc tố hoặc cũng có thể hoà tan chất độc vào nước và bài tiết ra ngoài có tác dụng bảo vệ cơ thể.

d. Tác dụng phòng ngừa: Trong gan có tế bào có thể nuốt chửng tiêu diệt được vi khuẩn do máu tĩnh mạch mang tới gan là nơi kháng nguyên và miễn dịch tốt.

         e. Thời kì phôi thai gan còn là cơ quan tạo máu chủ yếu: người trưởng thành gan có tác dụng như một cái kho dự trữ huyết dịch điều hoà tuần hoàn máu.

Hình 42 : Mạch máu của gan

  6. Túi mật: Hình quả lê đáy hướng ra trước xuống dưới hơi nhô khỏi bờ trước của gan dài khoảng 8-12cm rộng 3-5cm dung tích 40-60ml. Thành của túi mật được cấu tạo bởi một lớp niêm mạc và một lớp cơ mặt dưới có phúc mạc phủ mặt trên sát với gan.

       Túi mật có chức năng là 1 cái kho chứa dịch mật và điều hòa áp lực của ống dẫn mật

II. TUYẾN TỤY.

    Là tuyến lớn thứ hai tiết ra dịch tuỵ đổ vào tá tràng .

      Tuyến tụy là một tuyến nội-ngoại tiết: nội tiết tiết ra insuline đổ vào máu; ngoại tiết tiết ra dịch tuỵ đổ vào tá tràng . Ống tiết của tụy có thể đổ chung vào một ống cùng với ống mật chủ. Ở một số trường hợp tụy cũng có ống tiết phụ đổ riêng vào lòng tá tràng.

Hình 43 : Tuyến tụy

Huỳnh Hồ Như Lệ

Em muốn xem chi tiết được không ạ?

Em muon xem day du noi dung dc khong a