Phần VII: Số Huyệt

By Lê Hữu Hưng

B. SỐ HUYỆT

Mở đầu thiên ‘Khí Huyệt Luận Hoàng Đế hỏi: ‘Ta nghe khí huyệt có 365 huyệt để ứng với 1 năm xin cho biết rõ như thế nào ? - Kỳ Bá đáp: Về Tạng Du có 50 huyệt Phủ Du có 72 huyệt Nhiệt Du 39 huyệt Thủy Du 57 huyệt..." (TVấn 58 4 - 11). Và kết luận là " Tất cả có 365 huyệt đều là nơi dùng để châm thích" (TVấn 58 12). [Tuy nhiên nếu đếm kỹ các huyệt được nêu trong thiên này thì lại không đủ 365 huyệt...]

Đó là mới kể số huyệt của các kinh Chính còn rất nhiều huyệt không nằm trong các đường kinh chính gọi là huyệt Ngoài Kinh hoặc Biệt Huyệt cũng như các huyệt Mới (Tân Huyệt) do các nhà nghiên cứu châm cứu đã và đang dần dần khám phá ra ngày càng nhiều. Chưa kể đến các huyệt ở tai (Nhĩ Huyệt) ở mặt (Diện Huyệt) ở bàn tay (Thủ Huyệt) bàn chân (Túc Huyệt)...

More...

Phần VI: Tên Huyệt

By Lê Hữu Hưng

A.TÊN HUYỆT

a. Huyệt là tên gọi chung của nhiều loại: Cốt Không Du Mộ...

Theo YHCT: huyệt là những nơi có lỗ hổng sách Nội Kinh gọi là Khổng hoặc là nơi có cảm giác đau (Nội Kinh: Dĩ thống vi du - Lấy nơi đau làm huyệt).

Theo YHHĐ: Huyệt là những điểm cảm ứng của cơ quan tạng phủ thể hiện trên làn da (biểu bì) theo 1 đường liên lạc tuyến của tạng phủ (nhưng đường liên lạc này không giống các đường dây thần kinh của YHHĐ) (Châm Cứu Học Thượng Hải).

More...

Phần V: Hệ Thống Lạc Mạch

By Lê Hữu Hưng

 D . HỆ THỐNG LẠC MẠCH

A. Đại cương

Lạc Mạch là gì?

+ Trương-Cảnh-Nhạc chú giải thiên ‘Bản Du (LKhu 2) ghi: ‘Lạc tức là liên lạc với nhau".

+ Trương-Chí-Thông chú giải thiên ‘Ngũ Vị Luận (LKhu 56) ghi: " Lạc mạch ví như những chi lưu của giang hà Tôn lạc ví như những chi lưu ngoài chi lưu Đại lạc ví như ngoài giang hà còn có giang hà bên ngoài nó tương thông với tôn lạc của 12 kinh mạch nhưng cuối cùng tất cả đều xuất ra để qui về với biển".

- Thiên ‘Kinh Mạch ghi: "Các mạch nổi lên mà chúng ta thấy đều thuộc về Lạc mạch" (LKhu 10 117) và ‘Những mạch hiện ra đều thuộc Lạc mạch" (LKhu 10 121).

Trương-Cảnh-Nhạc khi chú giải đoạn này của thiên Kinh Mạch giải thích: "Phàm những sợi gân nằm ở phía ngoài cánh tay đều hiện lên rõ ràng tục gọi là gân xanh. Thực ra đây không phải là gân không phải là mạch đó là những đại lạc chứa huyết gọi là ‘Phù Lạc ".

More...

Phần III Châm Cứu: Hệ Thống Kinh Chính

By Lê Hữu Hưng

 A . HỆ THỐNG KINH CHÍNH

Gồm 12 đường kinh xếp theo thứ tự tuần hoàn kinh khí:

1. Thủ Thái Âm Phế Kinh.

2. Thủ Dương Minh Đại Trường Kinh.

3. Túc Dương Minh Vị Kinh.

4. Túc Thái Âm Tỳ Kinh.

5. Thủ Thiếu Âm Tâm Kinh.

6. Thủ Thái Dương Tiểu Trường Kinh.

7. Túc Thái Dương Bàng Quang Kinh.

8. Túc Thiếu Âm Thận Kinh.

9. Thủ Quyết Âm Tâm Bào Kinh.

10. Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu Kinh.

11. Túc Thiếu Dương Đởm Kinh.

12. Túc Quyết Âm Can Kinh.

Quan Hệ Của Kinh Lạc

Tuy phân chia ra làm 12 kinh với 12 tên gọi khác nhau nhưng giữa 12 kinh luôn có sự liên lạc mật thiết với nhau:

1) Quan Hệ Âm Dương :

   Theo cách phân chia này có thể dùng âm dương làm nền tảng để phân chia kinh lạc:

1.a- Theo Vị Trí

   + Những kinh Âm chạy ở phía trong tay chân gọi là thủ tam âm (Phế Tâm Bào Tâm) và túc Tam âm (Thận Can Tỳ). Từ đó ta có tên gọi: Thủ Thái Âm Phế Kinh Thủ Thiếu Âm Tâm Kinh Thủ Quyết Âm Tâm Bào Kinh và Túc Thái Âm Tỳ Kinh Túc Thiếu Âm Thận Kinh Túc Quyết Âm Can Kinh.

   + Những kinh dương chạy theo phía ngoài chân tay gọi là thủ tam dương (Đại trường Tam Tiêu Tiểu Trường) và túc tam dương (Bàng Quang Vị Đởm). Từ đó có tên gọi: Thủ Thái Dương Tiểu Trường Kinh Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu kinh Thủ Dương Minh Đại Trường Kinh và Túc Thái Dương Bàng Quang Kinh Túc Thiếu Dương Đởm Kinh Túc Dương Minh Vị Kinh.

   Theo cách phân chia này có 6 cặp kinh âm và 6 cặp kinh dương chỉ khác ở vị trí tay hoặc chân mà thôi.

1.b- Quan Hệ Âm Dương Nghịch Khí

   Quan hệ này dựa theo sự khác biệt về kinh khí của Âm Dương tức là khác biệt về sự nghịch khí. Tuy nghịch khí với nhau nhưng vẫn có quan hệ với nhau. Quan niệm này được áp dụng trong nhiều phác đồ điều trị của người xưa.

Theo đó ta có:

· Thái Dương nghịch với Thái Âm.

· Thiếu Dương nghịch với Thiếu Âm.

· Dương Minh Nghịch với Quyết Âm.

Nguyên tắc này bao giờ cũng phối huyệt 1 ở trên và 1 ở dưới.

(Xem thêm chi tiết ở phần Nguyên Tắc Điều Trị mục Phối Huyệt Trên Dưới).

2- Quan Hệ Đồng Danh

   Trương-Trọng-Cảnh trong sách ‘Thương Hàn Luận dựa vào sự chuyển biến khí hóa của Thái Cực đã chia các đường kinh thành Lục Kinh đặc biệt là các đường kinh này dù khác vị trí nhưng cùng tên. Theo đó ta có:

Lục Kinh

Kinh Tương Ứng

Thái Âm

Thủ Thái Âm Phế + Túc Thái Âm Tỳ

Thiếu Âm

Thủ Thiếu Âm Tâm + Túc Thiếu Âm Thận

Quyết Âm

Thủ Quyết Âm Tâm Bào + Túc Quyết Âm Can

Thái Dương

Thủ Thái Dương Tiểu Trường + Túc Thái Dương Bàng Quang

Thiếu Dương

Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu + Túc Thiếu Dương Đởm

Dương Minh

Thủ Dương Minh Đại Trường + Túc Dương Minh Vị

   Cách phân chia này dựa theo đặc tính đồng danh và 1 ở trên 1 ở dưới.

   Nguyên tắc phân chia này được áp dụng trong nguyên tắc châm đồng danh : bệnh ở 1 tạng phủ nào đó có thể điều trị ở kinh có quan hệ đồng danh với nó.

   Thí dụ: Bệnh liên hệ đến mồ hôi. Theo biện chứng mồ hôi liên hệ đến tạng Tâm (theo Nội Kinh : mồ hôi là dịch của Tâm) nhưng khi châm huyệt Phục Lưu (Th.7) của kinh Thận vẫn có hiệu quả vì Tâm và Thận đồng danh với nhau (Tủ Thiếu Âm Tâm và túc Thiếu Âm Thận).

   Hoặc bệnh nhân bị phù do Tỳ khí hư (theo y lý Tỳ có chức năng chuyển vận thủy thấp) nhưng trên lâm sàng chọn dùng huyệt Liệt Khuyết (P.7) vẫn có hiệu quả vì Tỳ và Phế đồng danh (Túc Thái Âm).

3) Quan Hệ Biểu Lý

   Quan hệ Biểu Lý được xây dựng trên nguyên tắc: Kinh bên trong nối với kinh bên ngoài hoặc kinh của Tạng nối với kinh của Phủ. Thí dụ: Phế - Đại Trường Can - Đởm...

   Đây cũng là 1 trong sự quan hệ giữa 1 kinh Âm (Lý - Tạng) và 1 kinh Dương (Biểu - Phủ).

   Theo cách quan hệ này khi có bệnh ở 1 kinh có thể chọn huyệt ở đường kinh có quan hệ Biểu Lý để điều trị mà vẫn có hiệu quả.

   Thí dụ: chứng nghẹt mũi. Theo biện chứng mũi nghẹt có liên hệ với Phế (theo Nội Kinh: Phế khai khiếu ở mũi nhưng trên thực tế lâm sàng cho thấy: châm huyệt Nghênh Hương (Đtr.20) + Hợp Cốc (Đtr.4) vẫn có hiệu quả vì Phế và Đại trường có quan hệ Biểu - Lý với nhau.

4) Quan Hệ Với Tạng Phủ

   Mỗi kinh thuộc tạng phủ nào đều có nhánh thông với tạng phủ đó vì thế khi tạng phủ đó bị bệnh có thể điều chỉnh ngay trên đường kinh tương ứng vẫn có hiệu quả.

Thí dụ: bụng đầy có liên hệ với tạng Tỳ Vị vì theo Nội Kinh: Tỳ chủ tiêu hoá. Có thể chọn huyệt Công Tôn (Ty.4) của kinh Tỳ hoặc huyệt Túc Tam Lý (Vi.36) của kinh Vị.

5- Quan Hệ Tương Sinh

   Mối quan hệ này dựa theo nguyên tắc tương sinh của Ngũ Hành. Theo đó ta có: Mộc sinh Hỏa Hỏa Sinh Thổ Thổ sinh Kim Kim Sinh Thủy Thủy sinh Mộc.

Mối quan hệ này được áp dụng khá nhiều trong điều trị nhất là nguyên tắc ‘Hư bổ mẫu và ‘Thực tả tử .

5.a- Quan Hệ Sinh Ra

   Mộc sinh Hỏa thì Mộc là Mẫu sinh ra Hỏa là Tử.

   Trong trường hợp bệnh nhân bị bệnh chứng ở Phế (lao phổi phế quản viêm mạn...) khi điều trị vì tạng Phế quá suy không thể bổ trực tiếp cho Phế được trường hợp này có thể chuyển khí của Tỳ qua cho Phế vì Phế là con của Tỳ (Dĩ Thổ sinh Kim).

5b. Quan Hệ Được Sinh

   Mộc sinh Hỏa thì Hỏa (tử) được sinh ra từ Can (mẫu). Quan hệ này được xử dụng nhiều trong điều trị theo nguyên tắc ‘Thực tả tử .

   Thí dụ: trường hợp vào mùa Hè thường bị nóng nẩy tức giận. Tức giận liên hệ đến Can (Nội Kinh: Can chủ nộ) tuy nhiên vì Can đang quá thực áp dụng nguyên tắc ‘Thực tả tử châm tả ở kinh Tâm để dẫn khí đang thực từ Can chuyển sang Tâm và Can sẽ bớt thực đi.

6- Quan Hệ Tương Khắc

   Quan hệ này dựa trên nguyên tắc ngũ hành tương khắc. Theo đó ta có: Mộc khắc Thổ Thổ khắc Thủy Thủy khắc Hỏa Hỏa khắc Kim Kim khắc Mộc.

Quan hệ này được dùng để khắc chế lẫn nhau trong trường hợp kinh khí của 1 kinh hoặc tạng phủ nào đó qúa mạnh có thể dùng khí của kinh hoặc tạng phủ tương khắc với nó để ức chế sự quá thịnh đó.

   Thí dụ: Lưỡi sưng lở loét do hỏa khí của Tâm vượng khi điều trị có thể chọn huyệt Thiếu Hải (Tm.3) là huyệt Thủy của Tâm để lấy thủy khắc hỏa.

Hoặc nướu răng sưng đau do nhiệt (hỏa) của Vị bốc lên chọn dùng huyệt Nội Đình là huyệt Thủy của Vị để trị...

Việc ứng dụng nguyên tắc ngũ hành tương khắc có thể có 2 cách:

a) Ta Khắc:

   Tạng Phế bệnh. Phế là Kim. Theo ngũ hành tương khắc: khi hành Mộc bị xáo trộn Kim khắc Mộc thì Kim là cái Ta Khắc. Trường hợp người bệnh do phong khí hoặc do giận dữ gây ra xáo trộn hành Mộc của đường kinh có thể chọn huyệt mang hành Kim để điều trị cho Mộc rút đi.

   Thí dụ: 1 người đi xe mà nói chuyện nhiều phong khí xâm nhập Phế làm cho Mộc khí của Phế vượng gây nên ho khan ho nhiều. Điều trị: xử dụng huyệt Kinh Cừ là huyệt Kim của Phế để lấy Kim khắc Mộc.

b) Khắc Ta:

   Cũng Tạng Phế bệnh. Phế thuộc Kim. Theo ngũ hành tương khắc: Hỏa khắc Kim thì Kim là cái bị khắc (Khắc Ta). Trường hợp người bệnh ngựctức khó thở ngực như bó chặt lại do kim khí của Phế quá vượng. Điều trị: chọn huyệt Ngư Tế là hỏa huyệt của kinh Phế để lấy Hỏa khắc Kim.

SỰ LIÊN HỆ GIỮA CÁC KINH

Có thể biểu diễn qua đồ hình sau:

VÙNG ĐẦU

THÁI DƯƠNG

Tiểu Trường (

Bàng Quang

THIẾU DƯƠNG

Tam Tiêu (

Đởm

DƯƠNG MINH

Đại Trường (

Vị

VÙNG NGỰC

THÁI ÂM

Phế

(Tỳ

QUYẾT ÂM

Tâm Bào

ßCan

THIẾU ÂM

Tâm

(Thận

Quan Hệ Trên Dưới Giữa Các Đường Kinh

More...

Phần II Châm Cứu: Hệ Thống Kinh Lạc Mạch

By Lê Hữu Hưng

CHƯƠNG II:    HỆ THỐNG KINH LẠC MẠCH

A. Đại cương

Kinh là đường dẫn khí huyết đi đến mọi chỗ trong cơ thể.

Lạc là những nhánh phân ra từ kinh nối kết các kinh mạch với nhau.

Kinh Lạc là những đường ngang dọc làm thành 1 mạng lưới nối tiếp chằng chịt phân bố khắp toàn thân. Kinh Lạc nối kết các tổ chức cơ quan tạng phủ lại với nhau như 1 chỉnh thể thống nhất.

Chữ Kinh theo người xưa có 1 ý nghĩa hết sức quan trọng. Chữ Kinh thuộc bộ Mịch ( ) có nghĩa là sợi tơ như vậy Kinh là những sợi tơ dệt theo chiều thẳng đứng không đứt đoạn. Người xưa ví Kinh giống như mạch nước trong lòng đất (địa trung thủy mạch).

Hoạt-Bá-Nhân khi chú giải điều I Nan Kinh ghi: "...Khi người xưa gọi là Kinh có nghĩa là nơi lưu hành khí vinh vệ sự lưu hành này theo đúng Kinh và thường không bao giờ ngưng nghỉ...".

Trước đây danh từ Kinh thường được gọi chung là Kinh Tuyến (Méridien) được Soulier De Morant dùng để dịch từ chữ Kinh của y học cổ truyền phương Đông. Nếu hiểu chữ Kinh theo nghĩa kinh tuyến của S. Morant thì Kinh chỉ là những đường ngang dọc giống như những đường kinh tuyến hoặc vĩ tuyến vẽ trên bản đồ. Vì dễ hiểu như thế nên danh từ kinh tuyến dễ dàng được chấp nhận 1 cách nhanh chóng và đơn giản. Tuy nhiên Kinh Lạc theo YHCT không phải chỉ là những đường ngang dọc (longitude - lattitude) mà là cả 1 hệ thống mạng lưới chằng chịt nối kết và liên hệ với nhau 1 cách chỉnh thể chứ không rời rạc như những đường dọc ngang mà S. Morant sử dụng.

 

More...

Phần I: Lịch Sử Châm Cứu Học

By Lê Hữu Hưng

 

CHƯƠNG I : LỊCH SỬ CHÂM CỨU HỌC

A. Đại cương

   Châm Cứu là tên gọi chung 2 phương pháp phòng và trị bệnh cổ truyền.

   Châm là dùng kim (vật nhọn...) đâm kích thích vào huyệt. Cứu là dùng hơi nóng tác động lên huyệt.

   Châm và cứu đều nhằm mục đích: với tác dụng lý học (vật nhọn đâm vào...) hoặc hoá học kích thích vào các huyệt tạo nên những phản ứng thích hợp với từng trạng thái bệnh lý điều hoà và duy trì sự hoạt động bình thường của cơ thể tiêu trừ các hiện tượng mất thăng bằng (tức là các hiện tượng bệnh lý) giảm đau...

I.B- Lịch Sử Châm Cứu

   Chữ Y theo nguyên ngữ lúc ban đầu là tạo thành bởi 3 phần:

   2 phần trên 1 phần có nghĩa là cung tên phần thứ 2 tượng trưng bàn tay vung lên còn phần dưới tượng trưng cho ông thầy pháp.

   Trọn nghĩa ban đầu có nghĩa là ông thầy pháp dùng những vũ khí mạnh. Dùng tay xử dụng mũi tên (có thể hiểu là để đuổi bệnh tật cũng có thể hiểu là để đâm vào huyệt). Như vậy Châm cứu đã có từ lâu hầu như gắn liền với việc phát minh ra thuốc.

Theo các nhà nghiên cứu: châm cứu bắt nguồn từ thời đồ đá (trên 4000 năm trước Công nguyên). Theo nguyên từ Acupunture tiếng La Tinh là Acus (nhọn) Punturus (điểm dấu chấm) dùng vật nhọn đâm vào huyệt.

   Người xưa thoạt tiên dùng đá mài nhọn làm kim châm (biêm thạch) hoặc dùng xương để châm (cốt châm) hoặc tre vót nhọn (trúc châm). Khi loài người từ thời đồ đá chuyển sang thời đại đồ đồng thì kim bằng đồng có diện tích mũi kim nhỏ (vi châm) cũng dần dần thay thế các kim bằng xương tre đá thô sơ để rồi kim bằng vàng bạc xuất hiện. Hiện nay trên thế giới đang thông dụng các loại kim làm bằng những hợp chất kim loại không rỉ có độ bền cao... Thế giới cũng đang nghiên cứu xử dụng châm bằng tia Laser bằng âm thanh... không tạo nên cảm giác đau như khi châm kim thông thường nhưng hiệu quả vẫn có thể không kém như châm cứu cổ điển.

   Quyển sách được coi là xưa nhất về Châm cứu là quyển Nội Kinh Linh Khu viết cách đây gần 3000 năm (770-221 trước Công Nguyên). Trong quyển sách Châm cứu xuất bản ở NewYork năm 1973 Felix Mann cho biết rằng ở viện bảo tàng LonDon có giữ 1 bản vẽ về các đường kinh của con người từ năm 1550 trước Công Nguyên.

Thế kỷ thứ 3 đời nhà Tấn Hoàng-Phủ-Mật (21-282) dựa theo sách Nội Kinh và Minh Đường Khổng Huyệt Châm Cứu Trị Yếu soạn ra quyển Châm Cứu Giáp Ất Kinh xác định được 349 huyệt.

More...