HỆ THẦN KINH

By Lê Hữu Hưng

 

HỆ THẦN KINH

•A-     ĐẠI CƯƠNG VỀ HỆ THẦN KINH

I-CHỨC NĂNG CỦA HỆ THẦN KINH

        Trong các hệ cơ quan của cơ thể thì hệ thần kinh đóng vai trò chủ đạo. Nó có 2 chức năng chính :

- Điều hòa sự hoạt động của các cơ quan và làm cho sự hoạt động của các cơ quan trong cơ thể trở thành một khối thống nhất.

- Đảm bảo sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường xung quanh.

II-PHÂN LOẠI HỆ THẦN KINH

       Dựa vào khu vực phân bố và chức năng người ta thường chia hệ thần kinh làm 2 phần là: HTK động vật và HTK thực vật.

1.Hệ thần kinh động vật :

       Chi phối các hoạt động liên hệ với ngoại cảnh hệ này chỉ huy các cơ vân ở đầu mặt thân tứ chi và một vài nội tạng (lưỡi hầu thanh quản...). Nhờ có HTK động vật mà con người có thể thực hiện được những động tác nhanh chính xác theo ý muốn và có được cảm giác.

 2. Hệ thần kinh thực vật :

        Phụ trách tất cả các cơ quan nội tạng các tuyến và các cơ trơn hoạt động ngoài ý muốn. Hệ này thực hiên chức năng chủ yếu là dinh dưỡng và bài tiết

       Hệ thần kinh thực vật gồm có hệ giao cảm và hệ  phó giao cảm.

 III- CẤU TẠO CỦA HỆ THẦN KINH : HTK động vật cũng như HTK thực vật đều gồm có hai phần là :

  * Hệ thần kinh trung ương : Gồm có não bộ và tuỷ sống

  * Hệ thần kinh ngoại biên : Gồm các dây thần kinh các hạch thần kinh và các đám rối thần kinh.

IV- NƠRON(NEURON) THẦN KINH

       Mỗi nơron thần kinh gồm có một thân một sợi trục và nhiều đuôi gai(sợi nhánh).

1.Thân nơron :

     -Gồm các thành phần cấu tạo của một tế bào như: màng  nguyên sinh chất và nhân.Trong nguyên sinh chất có chứa các bào quan như: ty thể ri bô xôm thể gôn gi...

   - Thân là nơi tiếp nhận và phát ra các xung động thần kinh.Trong hệ thần kinh thân thường tập trung thành các nhân các hạch hoặc chất xám nói chung

 2. Sợi trục và tua nhánh : Là phần kéo dài của màng tế bào trong chứa đầy bào tương ngoài có màng bọc

   * Sợi nhánh (đuôi gai) : Là những sợi ngắn   dẫn luồng xung động  thần kinh đi tới thân nơron ;

   * Sợi trục : - Rất dài dẫn luồng xung động thần kinh từ thân nơron đi ra . Tận cùng của sợi trục chia thành nhiều nhánh nhỏ để tiếp xúc với các cơ quan hoặc các sợi cơ để tạo thành những đầu tận cùng của những sợi cảm giác hay vận động.

   * Điểm tiếp hợp giữa nhánh cuối sợi trục của nơron này với thân hoặc sợi nhánh của nơron kia hay giữa dây thần kinh với cơ quan mà nó điều khiển thì gọi là xináp (synapse) (hay khớp thần kinh).

3. Dây thần kinh :

     Trong hệ thần kinh sợi trục  và những đuôi gai họp thành các bó dây thần kinh dẫn truyền xung động thần kinh. Phần chính của dây thần kinh là sợi trục.Các dây thần kinh có thể được bọc ngoài bởi một hoặc hai cái bao. Dựa vào đó người ta phân biệt ba loại dây thần kinh:

    * Sợi trần : Là sợi không có bao nào bọc ngoài .

    * Sợi không có myêlin : là những sợi được bọc ngoài bởi một bao liên tục tạo thành bởi các tế bào Soan (Schwann).

    * Sợi có myêlin : Sợi này được bọc bởi hai bao:                

        - Bao ngoài cùng được tạo bởi các tế bào Soan

        - Bao trong là bao myêlin có chứa myêlin là một  chất mỡ màu trắng làm cho loại sợi này có màu trắng

     Bao myêlin bao quanh sợi trục không liên tục do đó sợi có myêlin chia thành từng đoạn mỗi đoạn được ngăn cách nhau một chỗ thắt hẹp gọi là vòng thắt Ranvier.

đuôi gai

Thân neuron

Sợi trục

Tận cùng sợi trục

Hình 1 : Cấu tạo của neuron

V- PHÂN LOẠI TẾ BÀO THẦN KINH

1) Căn cứ vào số trục nhánh xuất phát từ thân nơron : Người ta phân thành ba loại sau:

 a. Nơron đa cực:

    Mỗi nơron có một sợi trục và nhiều đuôi gai.

       Ví dụ như nơron ở sừng trước tuỷ sống ở vỏ não.

 b. Nơron hai cực (lưỡng cực):

    Một cực tiếp với sợi trục một cực tiếp với đuôi gai.

          Loại này có ở võng mạc mắt.

 c. Nơron một cực : Có hai loại :

   * Neuron một cực thật: Nơron này không có đuôi gai và chỉ có một sợi trục.

                Ví dụ: nơron ở nhân thần kinh nhai

* Nơron một cực giả(neuron chữ T) :

    Có một sợi trục và một sợi nhánh xuất phát từ cùng một vị trí và hai sợi đó nằm sát nhau một đoạn rồi mới tách nhau ra.

        Ví dụ : nơ ron ở hạch gai của tủy sống

2) Dựa vào chức năng và hướng dẫn truyền : Gồm 3 loại :    

 a. Nơron cảm thụ (cảm giác hướng tâm ) : Thân tế bào nằm ở các hạch ngoài thần kinh trung ương.Nhiệm vụ tiếp thu các kích thích và dẫn truyền các xung động thần kinh vào trung ương thần kinh

 b. Nơron liên hợp : Thân tế bào nằm trong hệ thần kinh trung ương.Nhiệm vụ liên lạc giữa nơron cảm thụ và nơron hiệu ứng đồng thời biến các xung động thần kinh mà trung ương nhận được thành các phản ứng trả lời

 c. Nơron hiệu ứng (vận động ly tâm) : thân tế bào nằm ở trung ương hay ở các hạch giao cảm.Nhiệm vụ dẫn truyền xung động từ trung ương đến các cơ quan hiệu ứng để thực hiện các phản ứng

  VI- CUNG PHẢN XẠ

1- Khái niệm về phản xạ

        Phản xạ là khả năng phản ứng của cơ thể để trả lời các kích thích nhận được

 2- Cung phản xạ

      Là đường đi của luuồng xung động thần kinh từ nơi bị kích thích tới bộ phận đáp ứng.

        Một cung phản xạ gồm 5 bộ phận :

   * Cơ quan cảm nhận: Tiếp nhận kích thích

   * Tế bào thần kinh cảm giác: Sợi trục của nó tạo thành dây thần kinh hướng tâm dẫn truyền xung động thần kinh đi vào các trung tâm thần kinh

   * Trung ương (trung khu) thần kinh: Nằm ở chất xám của  não hay tủy sống( chứa nơron liên hợp). Là nơi phân tích và tổng hợp các kích thích

   * Tế bào thần kinh vận động: Sợi trục của nó tạo thành dây thần kinh  ly tâm dẫn truyền xung động thần kinh từ trung ương thần kinh đến cơ quan hiệu ứng.

   * Cơ quan hiệu ứng : Là các cơ hay tuyến để đáp ứng lại kích thích bằng cách co rút hay bài tiết.

    Cung phản xạ đơn giản nhất do tế bào thần kinh cảm giác và vận động tạo nên. Nhưng nói chung ở các cung phản xạ giữa tế bào thần kinh cảm thụ và tế bào thần kinh hiệu ứng có tế bào thần kinh lien hợp.

B- HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG

      * Sơ lược về phôi thai của hệ thần kinh trung ương :

   HTK có nguồn gốc tù ngoại bì. Đầu tiên chỉ là một ống thần kinh nằm trong ống sống. Sau đó:

* phía trên ống phát triển chia thành ba chỗ phình (ba bọng): Bọng não trước bọng não giữa và bọng não sau.

     - Bọng não trước thành hai bán cầu đại não và gian não

     - Bọng não sau thành hành não cầu não tiểu não

     - Bọng não giữa phát triển chậm hơn so với bọng não trước và bọng não sau nên ít thay đổi và hình thành trung não.

         Ống tuỷ trong quá trình phát triển có những chỗ phình rộng ra gọi là thất não.Bọng não trước có thất não bên và thất não ba. Bọng não giữa có cống Sylvius. Bọng não sau có thất não bốn và tuỷ sống có ống sống.

           Sự phát triển và diễn biến  cấu tạo của ống thần kinh: 

       Như vậy HTK trung ương kể từ dưới lên gồm có: tủy sống hành não cầu não tiểu não trung não gian não và đại não

                                                 I- TỦY SỐNG

1-HÌNH THỂ BÊN NGOÀI CỦA TỦY SỐNG

 a. Vị trí : Tuỷ sống nằm trong ống sống:

    - Ở trên giáp với hành não ngang mức với đốt sống cổ I

    - Ở dưới  tận cùng bởi một đầu hình nón gọi là  nón cùng ở ngang mức đốt sống thắt lưng II. Đầu nón cùng có dây cùng tới tận xương cụt là di tích mầm đầu tiên của tủy sống .

b.Hình dạng:

       Tủy sống có dạng hình trụ hơi dẹt theo chiều trước sau dài khoảng 45cm có hai chỗ phình:

     + Phình cổ : Tương ứng với đám rối cánh tay ở ngang mức đốt sống cổ II đến cổ VI

     + Phình thắt lưng : Tương ứng với đám rối thắt lưng ở ngang mức đố sống ngực X đến XII

 c.Các mặt và các rãnh: Tủy sống có bốn mặt và sáu rãnh:

   * Mặt trước: Có rãnh giữa trước sâu và rộng

   * Mặt sau: Có rãnh giữa sau rất hẹp

   * Hai mặt bên: Mỗi mặt có hai rãnh

      - Rãnh bên trước : Có rễ trước của các dây thần kinh tủy thoát ra

      - Rãnh bên sau: Có rễ sau của dây thần kinh tủy đi vào .

              Các rãnh này chia mỗi nửa tuỷ sống thành ba cột:

* Cột trước: Ở giữa rãnh giữa trước và rãnh bên trước.

* Cột bên: Ở giữa rãnh bên trước và rãnh bên sau.

* Cột sau: Ở giữa rãnh giữa sau và rãnh bên sau.

Hình 2 : Tủy sống và các dây thần kinh tủy

Hình 3 : Hình thể của tủy sống

d. Các đôi dây thần kinh tủy: Từ tủy sống xuất phát ra 31 đôi dây thần kinh tuỷ tương ứng với 31 đốt  sống. Các dây thần kinh tủy ở phía trên thì đi ngang còn phía dưới thì đi chếch ở dưới cùng thì tạo thành một bó gọi là đuôi ngựa.

   - Mỗi dây thần kinh tủy họp bởi hai rễ:

       + Rễ trước (rễ vận động): Chủ yếu do các sợi trục của các nơron vận đông ở sừng trước của tủy sống tạo nên

       + Rễ sau (rễ cảm giác): Là do các sợi trục của các nơron cảm giac nằm ở hạch gai của tủy sống tạo thành. Hạch gai là hạch nằm ở rễ sau trước chỗ gặp nhau với rễ trước.

2- HÌNH THỂ BÊN TRONG CỦA TỦY SỐNG:

    Trên mặt phẳng cắt ngang qua tuỷ sống ta thấy tuỷ sống được cấu tạo bởi hai phần: chất xám ở trong và chất trắng ở ngoài .

Hình 4 : Thiết đồ cắt ngang qua tủy sống

 2.1.Chất xám:

       Chất xám có hình chữ H gồm mép xám ở ngang giữa và mỗi bên (phải và trái) đều có 3 sừng:

 a. Sừng trước (sừng vận động): To và phình do thân của nơron thần kinh vận động tạo nên.

        Sừng này gồm hai nhân: nhân trước ngoài và nhân trước trong (nhân trước ngoài tới chi phối các cơ vân ở cổ ngực bụng và tứ chi còn nhân trước trong chi phối cho các cơ lưng bao quanh cột sống) .

 b. Sừng sau (sừng cảm giác): Hẹp và dài. Sừng này là nơi tiếp nhận rễ sau của dây thần kinh tủy.

       Sừng này có chứa hai nhân là nhân sau ngoài (nằm trong chất keo Rôlanđô ở đầu sừng) và nhân sau trong (nằm trong cột bọng Clarke).

c. Sừng bên: Nằm ở giữa sừng trước và sừng sau chứa nơron thần kinh thực vật nhưng chỉ có từ đốt sống ngực I đến đốt sống thắt lưng II (Sợi trục của nơron thực vật đi ra theo rễ trước lẫn với các sợi vận động).

d. Mép xám trung gian: Nối hai nửa phải và trái của tủy sống với nhau. Ở giữa mép xám có ống tủy.

       Khu giữa và hai sừng bên là vùng thần kinh thực vật chia làm hai phần:

- Phần sau là cảm giác (cảm tạng)

- Phần trước là phần vận động (vận tạng)

2.2. Chất trắng:

      Chất trắng là do các sợi thần kinh có Myêlin tạo nên làm nhiệm vụ dẫn truyền thường tập trung thành các bó gồm hai loại:

 a. Các bó dẫn truyền vận động từ não xuống:

    * Ở cột trước có:

    - Bó tháp thẳng (bó vỏ gai bụng): Là bó vận động có ý thức

    - Bó tiền đình gai bó mai gai thuộc hệ ngoại tháp vận động không ý thức

    * Ở cột bên có:

    - Bó tháp chéo (bó vỏ gai bên): Là bó vận động có ý thức

    - Các bó thuộc hệ ngoại tháp như: Bó đỏ gai bó lưới gai vận động không ý thức

b. Các bó dẫn truyền cảm giác đi lên:

   * Ở cột sau có:

•-         Bó Goll (bó thon) và bó Burdach (bó chêm): cảm giác sâu có ý thức từ xương cơ khớp dây chằng

   * Ở cột bên có:

•-         Bó tiểu não thẳng (bó tiểu não lưng) và bó tiểu não chéo (bó tiểu não bụng): dẫn truyền  cảm giác sâu không có ý thức

   * Ở cột trước bên có:

 - Bó cung trước(bó gai thị bụng): dẫn truyền cảm giác nông về xúc giác .

 - Bó cung sau (gai thị sau): dẫn truyền cảm giác nông về đau đớn nóng lạnh

                                           II- HÀNH  NÃO 

1-HÌNH THỂ NGOÀI:

  a.Vị trí:

      Nằm ở phía trên của tuỷ sống phía dưới của  cầu não phía trước của tiểu não.

  b.Hình dạng: Giống hình nón cụt có bốn mặt một đỉnh một đáy

        Hành não dài khoảng 3cm đường kính trước sau 12 - 15mm ngang dưới 10 - 12mm;  ngang trên 22 - 25mm.Gồm 4 mặt:

 * Mặt trước:

       - Có rãnh giữa trước và hai rãnh bên trước

       - Nằm hai bên rãnh giữa trước là hai cột chất trắng gọi là hai tháp trước

* Hai mặt bên:   Nằm ở giữa hai rãnh bên trước và hai rãnh bên sau.

       - Phía trên của hai mặt bên có hai nhân lồi lên gọi là trám hành; nó cùng với tiểu não tham gia việc giữ thăng bằng cho cơ thể.

      - Từ rãnh bên trước giữa bó tháp và trám hành có dây thần kinh sọ số XII thoát ra;

      - Từ rãnh bên sau phía sau trám hành có dây thần kinh số IX X XI thoát ra

Hình 5 : Não bộ (nhìn trước)

      Hình 6 : Não bộ (nhìn sau)

* Mặt sau: Chia làm hai đoạn:

- Đoạn dưới: Cấu tạo giống mặt sau của tuỷ sống

- Đoạn trên: Liên quan tới thất não IV và bị tiểu não che lấp. Do sự phát triển của thất não IV nên hai cột sau toạc rộng hình chữ V để biến thành cuống tiểu não dưới. Mỗi cột sau gồm hai phần:

     + Phần trong gọi là tháp sau: Do các sợi của bó Goll và bó Burdach tạo thành

     + Phần ngoài gọi là thể thừng: Thể thừng đi tới tiểu não tạo thành đôi cuống tiểu não dưới

     + Giữa 2 ngành chữ V là một khoang gọi là thất não IV( phần dưới của thất não IV)

* Đỉnh: Liên tiếp với tủy sống

* Đáy: Liên tiếp với cầu não bởi rãnh hành cầu.Từ đáy rãnh thoát ra các dây thần kinh số VI VII VIII .

2- HÌNH THỂ BÊN TRONG CỦA HÀNH NÃO:

      Trên mặt phẳng cắt ngang qua hành não người ta thấy hành não gồm có chất xám và chất trắng. Nhưng chất xám không liền thành cột mà tạo thành các nhân xen vào trong lẫn chất trắng.

Hình 8 : Thiết đồ cắt ngang qua hành não (cắt qua đầu trên)

  a. Chất xám: Cấu tạo chủ yếu gồm:

      * Nhân của các dây thần kinh sọ số IX X XI XII (Nhân hoài nghi là nhân vận động thân thể của dây số IX X XI. Còn nhân đơn độc là nhân cảm giác của dây VII IX X).

      * Các nhân riêng của hành não có:

             - Nhân trám hành: Gồm trám chính và trám phụ

             - Nhân Goll và nhân Burdach 

  b. Chất trắng có:

* Bó tháp: Nằm ngay sát với rãnh giữa trước

* Dải Reil (Rây) giữa là dải cảm giác: Do bó Goll và bó Burdach sau khi dừng lại ở nhân Goll và nhân Burdach thì có những sợi tiếp theo bắt chéo đường giữa tạo thành

* Các bó thuộc hệ ngoại tháp như: Bó hồng gai bó gai thị bó gai tiểu não chéo.

                              &

More...

HỆ GIÁC QUAN

By Lê Hữu Hưng

 

HỆ GIÁC QUAN

     Các giác quan là bộ phận ngoại biên của một cơ quan phân tích mà trung ương của các cơ quan phân tích này nằm ở vỏ bán cầu đại não. Ở các cơ quan phân tích có chứa các cơ quan thụ cảm tiếp nhận những kích thích về vật lý( cơ học ánh sáng âm thanh và thăng bằng) và hóa học( khứu giác vị giác) mà cơ thể nhận được từ môi trường xung quanh.

                Cơ thể có năm giác quan chính:

       - Cơ quan thị giác( mắt) tiếp nhận kích thích về ánh sáng

       - Cơ quan thính giác( tai) tiếp nhận kích thích về âm thanh và thăng bằng

       - Cơ quan khứu giác là các tế bào khứu giác ở niêm mạc vùng hốc mũi tiếp nhận các kích thích về mùi

       - Cơ quan vị giác là những nụ vị giác ở niêm mạc lưỡi tiếp nhận các kích thích về vị

       - Cơ quan xúc giác là nằm ở da tiếp nhận các kích thích về xúc giác đau đớn nhiệt độ.

                                   A- CƠ QUAN THỊ GIÁC

    Cơ quan quan thị giác được cấu tạo bởi hai phần chính là nhãn cầucác cấu tạo phụ của nhãn cầu.

I-HÌNH THỂ CỦA NHÃN CẦU:

- Là một vật thể hình cầu mà mặt trước là một chỗ lồi có độ cong lớn hơn tất cả diện tích còn lại.

  - Nhãn cầu được phân ra thành hai cực:

     + Cực trước tương ứng với trung tâm của giác mạc

     + Cực sau nằm ngoài chỗ dây thần kinh thị giác đi ra khỏi nhãn cầu một chút.

- Đường thẳng đi qua cực trước và cực sau gọi là trục quang học của mắt.

II- CẤU TẠO BÊN TRONG CỦA NHÃN CẦU:

         Gồm có vỏ của nhãn cầu và các môi trường trong suốt

   1. Vỏ của nhãn cầu: Gồm ba lớp màng từ ngoài vào trong là: 

 a. Lớp màng xơ: gồm có hai phần:

   - Giác mạc:chiếm 1/6 ở  phía trước của lớp màng xơ trong suốt nên ánh sáng có thể xuyên qua được

 - Củng mạc:chiếm 5/6 ở phía sau có màu trắng sữa do tổ chức liên kết sợi chắc tạo nên có tác dụng bảo vệ.

        Nơi tiếp giáp giữa giác mạc và củng mạc là rãnh củng mạc. phần giác mạc ở rãnh này gọi là viền giác mạc. Bên trong rãnh có xoang tĩnh mạch củng mạc

Hình 22 : Cấu tạo bên trong của nhãn cầu

b. Lớp màng mạch: Màng mạch được chia làm ba phần: phần sau là màng mạch chính thức giữa là thể mi và phần trước là mống mắt (lòng đen)

 * Màng mạch chính thức: Chiếm phần lớn phía sau có nhiều và có những tế bào chứa sắc tố đen làm cho lòng nhãn cầu tối như một buồng kín thuận lợi cho sự nhìn rõ

  -Phía sau màng có một lỗ thủng để cho dây thần kinh thị giác thoát ra

          Màng này dính chặt với củng mạc ở hai vị trí là : Nơi dây thần kinh thị giác đi ra và chỗ giác mạc chuyển thành củng mạc. Còn ở chỗ khác màng mạch liên kết với củng mạc một cách lỏng lẻo

 * Thể mi: Là phần giữa dày lên của màng mạch ở xung quanh bờ giác mạc. Thể mi có hai phần:

  - Phần ngoài là vành mi được cấu tạo bởi các cơ mi cơ mi bao gồm các bó sợi cơ trơn sắp xếp theo ba hướng:vòng nan hoa kinh tuyến.

  - Phần trong là mỏm mi gồm khoảng 60 đến 80 nếp lồi do lớp trong của màng mạch tạo nên. Trong các mỏm mi có các cuộn mạch

  - Ở giữa thể mi và nhân mắt có dây treo nhân mắt.Bởi vậy khi cơ mi co hay dãn sẽ làm cho nhân mắt có thể dẹp xuống hay phồng lên và đó là sự điều tiết của mắt khi nhìn những vật ở xa hay gần.

  * Mống mắt (lòng đen):

- Là phần trước của màng mạch và có hình một đĩa tròn đứng thẳng ở giữa có một lỗ thủng gọi là con ngươi(hay đồng tử).Con ngươi có thể thu nhỏ hay dãn rộng được là nhờ các cơ nằm ngay trong bề dày của mống mắt.Gồm có:

  + Cơ dãn đồng tử: chạy theo hướng nan hoa

  + Cơ thắt đồng tử: là một cơ vòng

 - Mống mắt có nhiều tế bào sắc tố khác nhau ở các giống người

   c. Lớp màng thần kinh(võng mạc): Gồm có ba phần: võng mạc chính thức võng mạc thể mi và võng mạc mống mắt tương ứng với ba phần của màng mạch.

        Trong đó võng mạc chính thức có cấu tạo phức tạp nhất được cấu tạo bởi ba lớp tế bào thần kinh là:

      * Lớp tế bào hình nón và hình que:

- Tế bào hình que thu nhận  các kích thích về ánh sáng trắng và đen. Các tế bào này chứa sắc tố đỏ thị giác gọi là Rôđốpxin.Chất này rất nhạy cảm với ánh sáng( khi hấp thụ ánh sáng thì làm hưng phấn tế bào hình que). Nó bị phân giải ngoài ánh sáng và lại được tái tạo trong bóng tối làm cho toàn bộ võng mạc có màu hồng

- Tế bào hình nón có khả năng cảm nhận các kích thích về màu sắc và sắc thái các màu

      * Lớp tế bào thần kinh song cực: Là lớp trung gian giữa lớp tế bào hình nón hình que với lớp tế bào hạch.

      * Lớp tế bào hạch: Là lớp tế bào đa cực. Sợi trục của lớp tế bào này tạo thành dây thần kinh thị giác

       Trên võng mạc thực sự người ta phân biệt hai điểm là:

  * Điểm vàng: Là nơi nhìn rõ vật nhất vì nơi đây tập trung nhiều tế bào hình nón và hình que nhất. Điểm vàng còn gọi là hố trung tâm

  * Điểm mù: Là nơi không nhìn thấy gì cả vì ở đây không có các tế bào hình nón và hình que.Điểm này chính là nơi dây thần kinh thị giác thoát ra khỏi nhãn cầu

2. Các môi trường trong suốt:

  a. Giác mạc: (đã được mô tả)

  b.Thuỷ dịch:

  - Nằm trong buồng trước và buồng sau của nhãn cầu.

     + Buồng trước là một khoảng nằm ở giữa giác mạc lòng đen và phía sau là nhân mắt

     + Buồng sau : Nằm giữa lòng đen nhân mắt và dây treo nhân mắt

     + Buồng trước và buồng sau thông với nhau bởi con ngươi .

  - Thuỷ dịch là một loại nước không màu trong suốt dịch này được các mạch máu chủ yếu ở trong các cuộn mạch mi tiết ra và là một loại dịch bạch huyết của nhãn cầu. Thủy dịch luôn luôn được lưu chuyển thoát vào hệ thống tĩnh mạch bằng một ống tròn quanh giác mạc. Áp lực của thủy dịch được lưu thông bình thường không thay đổi. Khi bệnh lý gây tắc nghẽn lưu thông thủy dịch sẽ làm tăng áp lực thủy dịch gây đau đầu và giảm thị lực( gọi là thiên đầu thống)

 c. Nhân mắt (thủy tinh thể):

       Là môi trường triết quang quan trọng nhất. hình dạng tương tự một thấu kính lồi hai mặt kích thước trước sau của nhân mắt khoảng 3 7mm. Khi cơ mi co độ căng của màng nhân mắt giảm do tính đàn hồi của nhân mắt nó trở nên lồi hơn kích thước trước sau có thể tới 4 4mm. Khi nhìn những vật ở xa nhân mắt dẹt lại . Khi nhìn gần nhân dầy lên. Đường kính nhân mắt khoảng 9 cm . Toàn bộ nhân mắt được  bọc kín trong màng nhân mắt . Mép của nhân mắt dính với dây treo nhân mắt (vòng gân chung) bao gồm các sợi rất nhỏ chạy tới thể mi.

d. Dịch thuỷ tinh:

     Là một chất dịch hơi nhầy trong suốt chứa toàn bộ khoang của nhãn cầu ở phía sau nhân mắt và dây treo nhân mắt .

    Dịch thuỷ tinh đựoc bao bọc bởi một màng trong suốt( màng thấm quang). Nằm theo trục dọc của thể thủy tinh là một ống gọi là ống thủy tinh. Trong phôi thai ống là đường đi của động mạch thể kính động mạch này chạy ra trước để cấp máu cho thấu kính và thường biến mất trước khi

III- CÁC CẤU TẠO PHỤ CỦA NHÃN CẦU.

1. Các mí mắt: Là những cấu tạo có tác dụng che trở bảo vệ nhãn cầu ở phía trước . Khi nhắm mắt các mí mắt góp phần làm ướt nhãn cầu.

    Mỗi mắt có hai mí : Mí trên và mí dưới ở bờ mi có lông mi giữa bờ mi trên và dưới có khe mắt . Trong mí mắt có các tuyến mí tiết ra dịch nhờn.

    Mặt trong mí mắt được che phủ bởi kết mạc . Kết mạc gồm hai phần: Kết mạc mí mắt và kết mạc nhãn cầu. Ở kết mạc mí mắt có các lỗ của ống tuyến lệ đổ vào và vòm kết mạc dưới.

Hình 23 : các cấu tạo phụ của nhãn cầu

2. Bộ lệ: Bao gồm tuyến lệ túi lệ và ống lệ .

   * Tuyến lệ: Nằm ở góc trên ngoài của ổ mắt . Đây là loại tuyến túi-ống. Tuyến lệ có hai phần trên và dưới gọi là tuyến lệ trên và tuyến lệ dưới.

   * Chức năng của tuyến lệ: Tiết ra nước mắt làm ướt nhãn cầu và để bảo vệ mắt

    Nước mắt tiết ra chảy vào hồ lệ rồi từ đó vào các ống lệ trên và ống lệ dưới rồi đổ vào ống lệ tỵ mở vào khoang mũi. Người ta nhìn thấy lỗ xuất phát của các ống lệ ở góc trong của khe mắt ở trên mi trên và mi dưới( gọ là điểm lệ trên và điểm lệ dưới)

3. Các cơ vận động nhãn cầu: các cơ vận động nhãn cầu đều là cơ vân có 7 cơ: 4 cơ thẳng; 2 cơ chéo và 1cơ nâng mi trên.

a. Bốn cơ thẳng:

       Trên dưới trong ngoài.Tác dụng: cơ co ở phía nào thì kéo nhãn cầu về phía đó.

b.Hai cơ chéo:

   - Cơ chéo trên(cơ chéo to): Khi co làm xoay mắt ra ngoài xuống dưới.

  - Cơ chéo dưới(cơ chéo bé): Khi co làm xoay nhãn cầu ra ngoài lên trên.

c.Cơ nâng mi trên: Khi co làm nâng mi trên

Hình 24 : Các cơ vận động của nhãn cầu

4. MẠCH MÁU VÀ THẦN KINH CỦA NHÃN CẦU :

 a. Động mạch: Võng mạc và dây thần kinh thị giác nhận máu từ động mạch trung tâm của võng mạc động mạch này nằm trong lòng dây thần kinh thị giác đi vào trong nhãn cầu và là một nhánh của động mạch ổ mắt( là một nhánh của động mạch cảnh trong) .

 b. Tĩnh mạch: Máu từ trong nhãn cầu đi ra bằng tĩnh mạch trung tâm của võng mạc. Tĩnh mạch này đi cùng với động mạch trung tâm. Ngoài ra còn có bốn tĩnh mạch xoáy các tĩnh mạch này đổ vào các tĩnh mạch ổ mắt rồi đổ vào xoang tĩnh mạch hang.

c. Thần kinh:

- Vận động các cơ ở mắt là do các dây thần kinh III IV VI.

- Cảm giác ở mắt( ổ mắt và tuyến lệ) là một nhánh của dây thần kinh tamthoa( dây V): nhánh mắt

- Giác quan là dây thần kinh thị giác(dây II)

- Thực vật: Làm tiết tuyến lệ là một nhánh của dây VII. Cơ thắt đồng tử và cơ mi được chi phối bởi một nhánh thực vật của dây III.

IV- ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN THỊ GIÁC.

Hình 25 : Đường dẫn truyền thị giác

- Các tế bào hình que và hình nón ở võng mạc sau khi tiếp nhận các kích thích về ánh sáng và màu sắc đã truyền xung động cho các tế bào song cực.Từ tế bào song cực xung động truyền đến các tế bào hạch. Sợi trục của các tế bào hạch chụm lại thành dây thần kinh thị giác(II) chui qua lỗ  thị giác đến hố sọ giữa thì một nửa số sợi phía ngoài võng mạc đi thẳng vào dải thị giác cùng bên còn một nửa số sợi phía trong võng mạc bên phải và trái bắt chéo nhau tạo thành chéo thị giác(giao thoa thị giác) rồi lại tách nhau ra đi vào hai dải thị giác chạy vòng quanh cuống đại não để đến thể gối ngoài và một số ít dừng lại ở đồi chẩm.

- Từ thể gối ngoài và đồi chẩm các sợi đi lên tạo thành tia thị giác tới vỏ não ở hồi chẩm sáu( hồi chêm) cho ta cảm nhận về ánh sáng và màu sắc. Một số sợi đi tới củ não sinh tư trên để điều khiển sự hoạt động các cơ của nhãn cầu cơ mi và cơ co thắt đồng tử.

B- CƠ QUAN THÍNH GIÁC VÀ THĂNG BẰNG

          Cơ quan thính giác và thăng bằng cấu tạo gồm 3 phần: tai ngoài tai giữa tai trong.

I- TAI NGOÀI: Gồm loa tai (vành tai)và ống tai ngoài( từ loa tai tới màng nhĩ)

  1. Vành tai: Có chức năng hứng tiếng động

  2. Ống tai ngoài: Dài khoảng 2cm nửa ngoài bằng sụn nửa trong bằng xương có chức năng dẫn truyền tiếng động.

         Ngăn cách giữa tai ngoài và tai giữa là màng nhĩ màng này nằm nghiêng bờ trên hướng ra ngoài bờ dưới hướng vào trong. Màng nhĩ hình chop căng ở giữa chắc và mỏng cấu tạo bởi tổ chức liên kết đường kính khoảng 9mm có chức năng thu nhận và khuyếch đại âm thanh.

II- TAI GIỮA: Là một hốc nằm trong xương đá gồm 3 phần: hòm nhĩ vòi nhĩ và xoang chũm.

•1.     Hòm nhĩ: là một hốc xương có hình thấu kính hai mặt lõm có sáu thành:  trước sau trên dưới trong và ngoài.

Hình 26 :  Thành ngoài của hòm nhĩ

   a. Thành trong: Được cấu tạo bởi phần đá xương thái dương liên quan với tai trong

- Ở giữa có một ụ lồi lên gọi là ụ nhô

- Phía trên ụ nhô có lỗ hình bầu dục gọi là cửa sổ bầu dục cửa sổ này có  xương bàn đạp lắp vào

- Phía dưới ụ nhô có lỗ hình tròn gọi là cửa sổ tròn có màng nhĩ phụ .

   b. Thành trước: Có lỗ vòi nhĩ thông hòm nhĩ với tỵ hầu.

   c. Thành sau: Phía trên có lỗ thông hang liên quan với hang chũm  .

   d. Thành trên: Gọi là trần hòm nhĩ ngăn ổ sọ với hòm nhĩ. Khi viêm tai giữa vi trùng có thể đi qua lên não.

   e. Thành dưới: Cấu tạo bởi phần nhĩ của xương thái dương.

   f. Thành ngoài: Chính là màng nhĩ.

           Trong hòm nhĩ có 3 xương nghe : Xương búa xương đe và xương bàn đạp nối tiếp nhau từ màng nhĩ đến cửa sổ bầu dục có chức năng dẫn truyền âm thanh . Giữa các xương có các khớp để khớp với nhau và có các cơ làm vận động các xương đó nhờ vậy chúng có thể hoạt động được. Mặt trong của hòm nhĩ và các xương có niêm mạc che phủ niêm mạc này liên tiếp với niêm mạc của tỵ hầu.

Hình 27 : Thành trước của hòm nhĩ

2. Vòi nhĩ( vòi Eustache): Là một ống thông hòm nhĩ với tỵ hầu chạy chếch ra trước vào trong xuống dưới song song với trục của xương đá và ống cơ búa . Vòi nhĩ có hai đoạn : 1/3 ngoài là xương ; 2/3 trong là sụn.

    Ở người lớn lỗ vòi luôn luôn đóng chỉ mở khi ta nuốt hoặc ngáp. Tác dụng cân bằng áp suất giữa tai ngoài và tai giữa. Vi dụ: Khi ta lên xuống nhanh bằng máy bay thì các động tác nuốt hoặc ngáp thường giúp cho chúng ta tránh được cảm giác rung chuyển của màng nhĩ do sự thay đổi áp lực khí quyển theo chiều cao gây ra

     Ở trẻ em lỗ vòi chưa phát triển luôn luôn mở cho nên vi trùng có thể xâm nhập từ khoang miệng hoặc mũi vào tai giữa rồi lên não

  3. Xoang chũm: Trong xương chũm có nhiều hốc hốc lớn nhất gọi là hang chũm thông với hòm nhĩ bởi lỗ thông hang

III- TAI TRONG:

Nằm trong phần đá xương thái dương là phần quan trọng nhất về chức năng và phức tạp về cấu tạo .

   - Tai trong gồm có hai phần: mê nhĩ xươngmê nhĩ màng. Mỗi phần lại gồm có ba bộ phận là: ốc tai tiền đình và các ống bán khuyên.

   - Giữa mê nhĩ xương và mê nhĩ màng là một khoảng chứa chất ngoại dịch. Còn bên trong mê nhĩ màng có chứa chất nội dịch.

Hình 28 : Mê nhĩ xương

1-Phần tiền đình:

      a.Tiền đình xương:

 - Có hai chỗ phình: Một có hình bầu dục và một có hình cầu.chỗ phình bầu dục thông với ba đường bán khuyên xương còn chỗ phình cầu thông với ốc tai

 - Tiền đình xương thông với hòm nhĩ bởi cửa sổ bầu dục và cửa sổ tròn

     b.Tiền đình màng:

 - Có hai nang: Một nang lớn gọi là soan nang;một nang nhỏ hình cầu gọi là cầu nang. Từ hai nang đi ra hai ống nhỏ rồi chập lại thành một ống lớn gọi là ống nội dịch. Ống này chui qua lỗ tai trong tới sát màng não thì phình ra thành một túi  gọi là túi bịt màng.

- Ở soan nang và cầu nang  có những vết đặc biệt với những thạch nhĩ có chứa cơ quan thụ cảm thăng bằng.

Hình 30 :  Mê nhĩ xương và mê nhĩ màng

2. Các đường bán khuyên:

a. Bán khuyên xương:

          Có ba đường  bán khuyên  nằm theo ba mặt phẳng vuông góc với nhau để định hướng ba chiều trong không gian:

           Mỗi ống bán khuyên có hai đầu thông với tiền đình bởi một lỗ phình và một lỗ không phình. Riêng lỗ không phình của ống bán khuyên sau và trên đổ   chung với nhau vào một chỗ nên chỉ có năm lỗ thông với tiền đình.

b.Bán khuyên màng:

  - Có ba bán khuyên màng nằm trong các ống bán khuyên xương tương ứng thông với soan nang bởi một đầu phình và một đầu không và cũng chỉ có năm lỗ thông với soan nang

 - Ở vùng phình (bóng phình) của các ống bán khuyên màng có các mào đặc biệt có chứa cơ quan thụ cảm thăng bằng.

3. Phần ốc tai:

 a. Ốc tai xương: Là một ống hình trụ một đầu thông với tiền đình và một đầu bịt. Ống cuốn hình một con ốc 2 5 vòng xung quanh một trụ xương hình nón.Ốc tai xương gồm có: Trụ ốc ống xoắn ốc và mảnh xoắn xương

     * Trụ ốc: Là một trục xương hình nón.Trong lòng trụ có những ống nhỏ chạy dọc để các sợi thần kinh ốc tai đi qua

    * Ống xoắn ốc: Dài 30mm quấn vòng quanh trụ ốc là chỗ để cho các hạch xoắn( hạch Corti) nằm

    * Mảnh xoắn xương: Là một mảnh xương mỏng nhô ra từ trụ ốc tai và quấn quanh trụ theo một đường xoắn ốc.Mảnh xoắn xương có hai bờ:

  - Một bờ dính vào trụ ốc và một bờ nhô vào trong lòng ống xoắn ốc.

  - Từ bờ tự do của mảnh xoắn xương tới thành ngoài ống xoắn ốc là tấm xoắn màng có màng nền.

       Như vậy tấm xoắn xương và tấm xoắn màng đã chia lòng ống xoắn thành hai tầng:tầng trên là vịn tiền đình tầng dưới là vịn màng nhĩ hai vịn này thông nhau ở đỉnh của ốc tai.

Hình 29 : Mê nhĩ màng

b. Ốc tai màng: Là một ống hình lăng trụ nằm xoắn dọc theo ốc tai xương

                Trên thiết đồ cắt dọc qua trụ ốc người ta thấy:

   * Ở giữa là trụ ốc

    * Hai bên có năm mặt cắt của ống ốc tai.Trong mỗi mặt cắt ốc tai màng có ba cạnh:

               - Cạnh ngoài là một màng sát với thành ốc tai xương

               - Cạnh trên là màng tiền đình (màng Rexne)

               - Cạnh dưới là màng nền. Trên màng nền có cơ quan xoắn ốc (cơ quan Corti) cảm nhận về âm thanh

* Cấu tạo của cơ quan corti :

  - Gồm một số lượng lớn các sợi xơ.

  - Các dây thần kinh thính giác nằm giữa mảnh xoắn xương và thành đối diện của ốc tai xương. Những sợi này có độ dài ngắn khác nhau trông giống như những dây đàn để đáp lại những dao động của ngoại dịch và nội dịch.Ở người có khoảng 24000 dây

  - Các tế bào của cơ quan corti gồm hai loại: tế bào chống đỡ và các tế bào cảm thụ(tế bào này có lông) .

  - Trên cơ quan Corti có màng mái mặt dưới màng mái liên hệ với các đầu tận cùng của lông các tế bào thính giác. Trong trường hợp ngoại dịch dao động và một số sợi của màng nền dao động thì đầu tận cùng của các tế b&ag

More...

HỆ TUẦN HOÀN MÁU

By Lê Hữu Hưng

 

HỆ TUẦN HOÀN MÁU

                                  Gồm có tim và các mạch máu

I. MẠCH MÁU:

      Gồm có 3 loại mạch là động mạch tĩnh mạch và mao mạch.

1- Động mạch: là những mạch dẫn máu từ tim đến các bộ phận tế bào.

            Thành động mạch gồm ba lớp áo chính:

   - Lớp áo trong nằm trong cùng được cấu tạo bởi các tế bào nội mô dẹt.

   - Lớp áo giữa gồm các sợi cơ trơn và các sợi chun.

   - Lớp áo ngoài do các tổ chức liên kết sợi tạo nên.

2- Tĩnh mạch : là những mạch dẫn máu từ các cơ quan trở về tim.

       Thành của tĩnh mạch cũng gồm ba lớp như ở động mạch nhưng có một số điểm khác sau:

   - Thành động mạch dày và có độ đàn hồi lớn hơn do lớp áo giữa dày và chứa nhiều sợi chun hơn.

   - Ở tĩnh mạch lớp áo trong có các van tĩnh mạch. Đó là những nếp chập đôi của lớp áo trong có tác dụng cho máu chảy theo một chiều.

3- Mao mạch : là những mạch rất nhỏ nối giữa động mạch và tĩnh mạch.

    Thành mao mạch chỉ có một lớp tế bào nội mô giữa các tế bào này có những lỗ nhỏ để cho quá trình trao đổi chất giữa các tế bào và máu được thực hiện.

II- TIM:

 1-VỊ TRÍ: Tim nằm lồng ngực ở trong trung thất giữa hai lá phổi trên cơ hoành ở ngay sau xương ức và xương sườn hơi lệch sang trái.

  - Bộ phận lớn của tim nằm ở nửa bên trái cơ thể còn bộ phận nhỏ nằm ở nửa bên phải

 - Giới hạn trên của tim ở ngang mức  sụn sườn III

 - Giới hạn dưới ở ngang mức sụn sườn V bên trái hơi ở phía trong đường thẳng qua núm vú.

 - Khối lượng trung bình của tim là 260-270g ở người lớn .

Hình 56 : Vị trí của tim

2. HÌNH THỂ NGOÀI:

 a. Hình dáng: Tim có dạng hình nón không đều có hai mặt một đỉnh một đáy hai bờ.

  * Các mặt: Mặt trước (ức-sườn) hướng ra trước và lên trên

 * Mặt sau: Hướng ra sau xuống dưới về phía cơ hoành

 * Đáy tim: Là mặt sau của hai tâm nhĩ

 * Đỉnh tim: Là mỏm tim

 * Bờ tim: Gồm hai bờ: bờ trái dầy do thành của tâm thất trái tạo thành. Bờ phải sắc do thành tâm thất phải tạo thành.

 b.Các rãnh của tim: Trên mặt tim có các rãnh là nơi các mạch máu bạch huyết thần kinh đi gồm hai rãnh:

 - Một rãnh chạy dọc từ mặt trước đến mặt sau chia tâm thất thành hai nửa là tâm thất phải và tâm thất trái. Rãnh này là rãnh liên thất.

 - Một rãnh ngang(rãnh vành) chia tim làm hai phần: Phần trên là tâm nhĩ phần dưới là tâm thất.

Hình 57 : Mặt sau của tim

3-CẤU TẠO TRONG CỦA TIM:

      Tim gồm hai nửa trái và phải không thông nhau. Nửa trái chiếm 2/3 tim chứa máu động mạch. Nửa phải chiếm 1/3 chứa máu tĩnh mạch. Mỗi nửa gồm hai buồng thông nhau: buồng trên là tâm nhĩ buồng dưới là tâm thất.

  Dung tích của các buồng tim được xác định như sau: Tâm nhĩ phải:57ml;Tâm nhĩ trái: 125ml; Tâm thất phải:85ml; Tâm thất trái: 185ml.

a.Tâm nhĩ phải:

        - Là nơi tĩnh mạch chủ trên tĩnh mạch chủ dưới và xoang tĩnh mạch vành đổ vào.

        - Tâm nhĩ phải có một khoảng bổ sung tạo thành tiểu nhĩ phải

   - Ở lỗ thông giữa tĩnh mạch chủ dưới với tâm nhĩ phải và ở lỗ thông giữa xoang tĩnh mạch vành với tâm nhĩ phải có van tĩnh mạch.Cả hai van trên đều có hình liềm lõm

  - Thành của tâm nhĩ nói chung là mỏng và nhẵn chỉ có một vài gờ cơ chạy song song

       - Tâm nhĩ phải thông với tâm thất phải bởi lỗ nhĩ thất: lỗ này có van nhĩ thất phải gọi là van ba lá van này có hình phễu đáy dính vào chu vi lỗ còn đỉnh quay xuống dưới có dây chằng bám vào các cột cơ của thành tâm thất. Tác dụng của van là làm cho máu chảy theo một chiều. Khi tâm nhĩ phải co thì các van tĩnh mạch đóng lại van ba lá mở ra máu từ tâm nhĩ phải qua van đi xuống tâm thất phải. Khi tâm nhĩ phải dãn thì các van tĩnh mạch mở ra để hút máu từ các tĩnh mạch đổ về đồng thời van ba lá đóng lại làm cho máu không đi ngược từ tâm thất phải trở lại tâm nhĩ phải.

Hình 58 : Tim bổ dọc

Hình 59 : Tâm nhĩ phải

Hình 60 : Các van tim thì tâm thu

Hình 61 : Các van tim thì tâm trương

b. Tâm thất phải.

     - Từ tâm thất phải có thân động mạch phổi đi ra. Giữa động mạch phổi và tâm thất phải có van động mạch phổi gọi là van tổ chim (van bán nguyệt). Van này cũng có ba lá mỗi lá hình một cái tổ chim có tác dụng làm cho máu chảy theo một chiều từ tâm thất vào động mạch. Khi tâm thất co bóp van ba lá đóng lại đồng thời van động mạch phổi mở ra làm cho máu được đẩy vào động mạch phổi. Khi tâm thất dãn ra van động mạch phổi đóng lại để ngăn không cho máu chảy ngược từ động mạch  vào tâm thất phải đồng thời van ba lá mở ra để máu từ tâm nhĩ phải đổ vào tâm thất phải.

 - Thành tâm thất phải dày hơn thành tâm nhĩ phải mặt trong có nhiều bè cơ cột cơ với những dây chằng bám vào van ba lá.

Hình 62 : Tâm thất phải

c. Tâm nhĩ trái:

- Tâm nhĩ trái có một khoảng bổ xung tạo thành tiểu nhĩ trái.

- Vách ngăn giữa hai tâm nhĩ gọi là vách liên nhĩ. Vách này có di tích của lỗ Bôtal thông hai tâm nhĩ trong thời kỳ phôi thai.

- Tâm nhĩ trái có bốn tĩnh mạch phổi đổ vào qua bốn lỗ tĩnh mạch phổi

- Tâm nhĩ trái thông với tâm thất trái bởi lỗ nhĩ thất trái. Ở lỗ này có van nhĩ thất trái gọi là van hai lá dầy và phát triển hơn van ba lá. Tác dụng của van cũng giống như van ba lá là làm cho máu chảy theo một chiều. Khi tâm nhĩ trái co thì van hai lá mở ra máu từ tâm nhĩ trái qua van đi xuống tâm thất trái. Khi tâm nhĩ trái dãn máu từ các tĩnh mạch phổi đổ về tâm nhĩ trái đồng thời tâm thất trái co để tống máu vào trong động mạch chủ thì van hai lá đóng lại máu không đi ngược từ tâm thất trái trở lại tâm nhĩ trái.

d. Tâm thất trái:

- Được ngăn cách với tâm thất phải bởi vách liên thất

- Từ tâm thất trái có thân động mạch chủ đi ra. Lỗ thông giữa động mạch chủ và tâm thất trái có van động mạch chủ gọi là van tổ chim có cấu tao giống như van động mạch phổi nhưng chắc hơn có tác dụng làm cho máu chảy theo một chiều từ tâm thất vào động mạch. Khi tâm thất co bóp van hai lá đóng lại đồng thời van động mạch chủ mở ra làm cho máu được đẩy vào động mạch chủ. Khi tâm thất dãn ra van động mạch chủ đóng lại ngăn không cho máu chảy ngược vào tâm thất trái đồng thời van hai lá mở ra máu từ TNT đổ vào TTT.

         Các buồng nhĩ thất trái phải co bóp và giãn nở đồng bộ nên van động mạch và hai van nhĩ thất cùng đồng thời đóng mở cùng theo.

  - Thành của của tâm thất trái dày gấp hai đến ba lần thành tâm thất phải có nhiều bè cơ cột cơ với những dây chằng bám vào mép các van hai lá

Hình 63 : Tâm thất trái

4-CẤU TẠO CỦA THÀNH TIM.

             Thành tim gồm 3 lớp:

 a. Lớp trong cùng là lớp nội tâm mạc: Bao gồm những tế bào nội mô phủ ở mặt trong các buồng tim. Lớp này trơn nhẵn và tham gia tạo thành các van tim

 b. Lớp giữa là lớp cơ: Cơ tim là cơ đặc biệt vừa có đặc điểm giống cơ vân vừa có đặc điểm giống cơ trơn.

- Cơ của thành tim gồm những sợi cơ hình cung hai đầu bám vào các lỗ tim. Nhưng sự sắp xếp các sợi ở các buồng tâm nhĩ và tâm thất thì khác nhau:

  * Sợi cơ của tâm nhĩ: Gồm hai lớp:

  • - Lớp trong chạy dọc riêng từng tâm nhĩ
  • - Lớp ngoài chạy vòng chung cả hai tâm nhĩ.

  * Sợi cơ của tâm thất : Gồm ba lớp:

         - Lớp ngoài và lớp trong là những sợi cơ dọc hay xiên chung cho cả hai tâm thất phải và trái. Những sợi dọc này xuất phát từ lỗ nhĩ thất xuống dưới ở mặt trước tim chúng chạy từ phải sang trái còn ở mặt sau nó chạy ngược lại . Khi đến đỉnh tim thì các sợi này chạy vòng trở lên lộn một vòng và lật vào trong chuyển thành lớp sâu tới vòng sơ của bên đối diện.

       - Lớp giữa cấu tạo bởi các cơ vòng riêng cho từng tâm thất: các sợi này đi từ vòng sợi của lỗ nhĩ thất  rồi vòng lên vòng sợi của lỗ động mạch hoặc ngược lại.

   * Vách liên thất được cấu tạo bởi các sợi cơ vòng

 c. Lớp ngoại tâm mạc (màng ngoài tim):

         Gồm hai lá lá thành và lá tạng:

         - Lá tạng bọc sát tim khi đến các huyết quả lớn thì quặt lại liên tiếp với lá thành.

    - Giữa hai lá có dịch thanh mạc.

 5-THẦN KINH CỦA TIM: Tim được chi phối bởi hai hệ thống thần kinh là:Hệ thực vật và hệ tự chủ

 a. Hệ thực vật: Do dây X (dây phế vị) chi phối gồm những sợi giao cảm làm cho tim đập nhanh và những sợi phó giao cảm làm cho tim đập chậm

 b. Hệ tự chủ: Gồm các nút và các bó để thực hiện chức năng phát sinh xung động và dẫn truyền xung động làm cho tim co bóp một cách nhịp nhàng.

Hình 64 : Hệ thống nút tự động của tim

  * Nút xoang (Keith-Flack): Nằm ở sau tâm nhĩ phải gần nơi tĩnh mạch chủ trên đổ vào tâm nhĩ và ở dưới lớp ngoại tâm mạc

       Nút này là trung tâm tự động chính.Từ nút này xung động được truyền vào thành của hai tâm nhĩ làm cho hai tâm nhĩ co nhịp nhàng với nhau. Sau đó xung động được tập trung ở nút nhĩ thất

* Nút nhĩ thất (nút Aschop -Tawara)

 - Nằm ở vách ngăn của 2 tâm nhĩ phía dưới của tâm nhĩ phải và ở dưới lớp nội tâm mạc

 - Từ nút nhĩ thất tách ra bó His mang kích thích của tâm nhĩ tới tâm thất

 * Bó His (bó nhĩ thất): Chạy dọc theo vách ngăn của hai tâm thất sau đó bó này chia làm hai bó: phải và trái phân nhánh vào thành TTP và TTT      

 * Mạng lưới Purkinje: Hai bó phải và trái khi vào đến thành tâm thất thì phân thành nhánh nhỏ tạo thành mạng lưới toả vào các cột tim gờ tim nằm dưới lớp nội tâm mạc gọi là mạng lưới Purkinje.

6-MẠCH MÁU CỦA TIM.

 a. Động mạch: Động mạch nuôi tim gồm hai động mạch vành phải và động mạch vành trái được tách ra từ động mạch chủ ở ngang mức các van tổ chim

 b. Tĩnh mạch: Mang máu của hai động mạch vành được đổ vào tâm nhĩ phải gồm có: Tĩnh mạch vành lớn và các tĩnh mạch nhỏ đổ trực tiếp vào tâm nhĩ phải.

III- VÒNG TUẦN HOÀN MÁU:

     Toàn bộ tim cùng các mạch máu tạo thành vòng kín gồm có hai vòng tuần hoàn: lớn và nhỏ

1- Đại cương về vòng tuần hoàn:

 a.Vòng tuần hoàn nhỏ:

   - Máu từ tâm thất phải đi lên phổi bằng động mạch phổi là động mạch chứa máu màu đỏ thẫm để thực hiện sự trao đổi khí là nhả CO2 và nhận O2

   - Máu từ phổi trở về tâm nhĩ trái bằng các tĩnh mạch phổi là tĩnh mạch chứa máu màu đỏ tươi.

 b. Vòng tuần hoàn lớn:

      Máu từ tâm thất trái theo động mạch chủ đi nuôi cơ thể rồi về tâm nhĩ phải bằng các tĩnh mạch chủ và xoang tĩnh mạch vành.

2- Các mạch máu của vòng tuần hoàn nhỏ:

a. Động mạch phổi:

         Thân động mạch phổi dài khoảng 5cm lên đến ngang mức đốt sống ngực thứ 4 thì phân hai nhánh thành động mạch phổi phải và trái đi vào hai lá phổi. Đến rốn phổi động mạch phải chia ba nhánh động mạch phổi trái chia hai nhánh tới các thuỳ phổi. Các nhánh lại tiếp tục phân nhỏ  tạo thành mạng lưới mao mạch bao quanh các phế nang để thực hiện trao đổi khí

b. Tĩnh mạch phổi:

         Xuất phát từ các mao tĩnh mạch ở các phế nang máu được tập trung thành các tĩnh mạch nhỏ rồi đến các tĩnh mạch lớn cuối cùng đổ vào hai tĩnh mạch phổi ở mỗi lá phổi để đổ máu động mạch vào tâm nhĩ trái.

3.Các mạch máu của vòng tuần hoàn lớn: Đó là động mạch chủ và tĩnh mạch chủ

3.1. Động mạch chủ: Gồm có ba đoạn: động mạch chủ lên cung động mạch chủ và động mạch chủ xuống.

3.1.1. Động mạch chủ lên: Từ tâm thất trái đi ra dài khoảng 5cm. Từ động mạch chủ lên tách ra hai động mạch: vành phải và trái để nuôi tim .

3.1.2. Cung động mạch chủ: Từ mặt trên của cung động mạch chủ tách ra ba động mạch lớn:

    Thân động mạch cánh tay đầu; động mạch cảnh gốc trái và động mạch dưới đòn trái.

a. Thân động mạch cánh tay đầu: Từ động mạch này chia thành hai động mạch: động mạch cảnh gốc phải và động mạch dưới đòn phải

b. Động mạch cảnh gốc: Động mạch cảnh gốc phải và trái đều chia làm hai ngành tận là: Động mạch cảnh ngoài và động mạch cảnh trong cấp máu cho khu đầu mặt cổ

 c. Động mạch dưới đòn: Động mạch dưới đòn phải và trái đều tách ra các nhánh bên để nuôi dưỡng tuỷ sống da cơ và các cơ quan ở vùng ngực và vùng cổ

 * Động mạch dưới đòn khi chạy tới điểm giữa và dưới xương đòn thì được gọi là động mạch nách cấp máu nuôi dưỡng da cơ vùng đai vai vùng lưng vùng ngực bên 

 * Động mạch nách khi tới ngang bờ dưới cơ ngực to thì đổi thành động mạch cánh tay cấp máu cho vùng cánh tay 

 * Động mạch cánh tay khi đến khuỷu tay thì chia hai nhánh là: Động mạch  quay và động mạch trụ cấp máu cho vùng cẳng tay và bàn tay.

 3.1.3. Động mạch chủ xuống: Gồm động mạch chủ ngực (đi trong vùng ngực) và động mạch chủ bụng (đi trong vùng bụng).

 a. Động mạch chủ ngực và động mạch chủ bụng: Đều tách thành hai nhánh là: Động mạch thành và động mạch tạng cấp máu cho thành và các tạng trong khoang ngực và khoang bụng

  Động mạch chủ bụng xuống tới khung chậu thì chia thành hai nhánh: động mạch chậu chung trái và động mạch chậu chung phải.

b. Động mạch chậu chung: Mỗi động mạch lại phân ra thành động mạch là: Động mạch chậu trong và động mạch chậu ngoài.

* Động mạch chậu trong: Khi chạy xuống chậu hông bé phân làm nhiều nhánh tới thành và các tạng trong khung chậu bé:

* Động mạch chậu ngoài: Sau khi chui qua dây chằng bẹn (cung đùi) thì đổi thành động mạch đùi cấp máu cho khu đùi

* Động mạch đùi khi vòng qua cơ khép lớn thì đổi thành động mạch khoeo

* Động mạch khoeo tới bờ dưới cơ khoeo thì chia thành hai nhánh là: động mạch chày trước và động mạch chày sau cấp máu cho vùng cẳng chân và bàn chân

  3.2. Tĩnh mạch chủ: Đem máu trở về tim theo ba hệ thống chính :

 a. Các tĩnh mạch thành tim: Thu nhận máu từ động mạch vành rồi đổ vào tâm nhĩ phải

 b. Tĩnh mạch chủ trên: Nhận máu từ chi trên đầu cổ thành ngực và một phần ổ bụng rồi đổ vào tâm nhĩ phải

 c. Tĩnh mạch chủ dưới: Nhận máu từ chi dưới vùng chậu hông một phần bụng và các tạng trong ổ bụng

    Riêng máu từ các tạng ( tỳ dạ dày tụy túi mật ruột non trước khi đổ vào tĩnh mạch chủ dưới phải đi qua gan (theo tĩnh mạch cửa) để gan lọc .

IV. ẢNH HƯỞNG CỦA LUYỆN TẬP THỂ THAO ĐỐI VỚI HÌNH THÁI CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG CỦA TIM MẠCH.

1. Ảnh hưởng của luyện tập thể thao đối với tim

Luyện tập thể thao trong thời gian dài hợp lí có thể làm trọng lượng và thể tích của tim tăng lên. Trọng lượng tim người bình thường khoảng 300g  nhưng ở vận động viên có thể đạt tới 400 hoặc 500g sợi cơ tim cũng dày lên.

Những năm gần đây nhiều thí nghiệm của các nhà khoa học thể thao đã chứng minh : những bài tập sức bền có cường độ lớn có thể làm tế bào tim cơ phình to xoang cơ tim giãn nở. Số lượng sợi ti lạp thể trong tế bào cơ tim tăng mật độ thể tích của sợi tơ cơ tăng cao. Điều này có lợi cho việc cung cấp năng lượng cho tim. Cùng với sự phì đại cơ tim trong mô cơ số lượng mao mạch cũng tăng lên rõ rệt. Các mao mạch đan xen nhau tạo thành hình răng cưa hoặc hình xoắn vặn. Dung tích và diện tích bề mặt mao mạch tăng điều  này có lợi cho việc cung cấp oxi và năng lượng cho mô tim.

Luyện tập thể thao trong thời gian dài làm hình thái cấu tạo của cơ tim có những thay đổi để thích ứng từ đó mà chức năng của tim cũng tăng cường: làm tăng khả năng co bóp của tim dung tích của tim lớn hơn làm thể tích tâm thu và thể tích phút của tim cũng lớn hơn. Những bài tập sức bền còn có thể làm chức năng nội tiết tố của tim được tăng cường.

2. Ảnh hưởng của luyện tập thể thao đối với mạch máu.

Luyện tập thể thao có thể làm màng trong thành động mạch dày lên sợi đàn hồi và cơ trơn cũng dày lên tính đàn hồi của thành động mạch được tăng cường đập có lực hơn thuận lợi cho máu lưu thông trong mạch.

Luyện tập thể thao còn có thể thay đổi số lượng mao mạch phân bố trong các cơ quan ví dụ làm số lượng mao mach trong cơ vân tăng kích thước cũng tăng các nhánh tập hợp nhiều hơn cung cấp máu tới các cơ quan được cải thiện từ đó nâng cao chức năng của các cơ quan.

More...

HỆ TIẾT NIỆU

By Lê Hữu Hưng

 

HỆ TIẾT NIỆU

* Khái quát về hệ tiết niệu:

         Cơ quan tiết niệu có nhiệm vụ lọc các chất độc trong máu được sinh ra trong quá trình trao đổi chất (nước tiểu) đồng thời nó còn giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh huyết áp cân bằng nước và chất điện giải.

         Thuộc về hệ tiết niệu gồm có: thận → niệu quản → bàng quan → niệu đạo

I- THẬN:

1. VỊ TRÍ: Thận gồm hai quả nằm sau phúc mạc bên phải và bên trái cột sống ngang đốt ngực XI đến đốt thắt lưng III . Thận phải nằm thấp hơn thận trái một chút.

       * Liên quan: Mỗi thận nằm giáp với các tạng sau:

- Phía sau và trong mỗi thận giáp với cơ vuông thắt lưng cơ thắt lưng to cơ hoành.

- Phía trước có phúc mạc phủ

- Trên có tuyến thượng thận trên thận phải có gan thận trái có tỳ

- Phía trước thận phải có tá tràng thận trái có đuôi tuỵ

Hình 65 : Vị trí của thận

2. HÌNH THỂ NGOÀI:

Hình 66 : Hình thể ngoài của thận

- Thận có hình hạt đậu mầu nâu đỏ bề mặt trơn bóng dài 10-12cm rộng 6-7cm nặng 125-140gr.

- Thận có hai mặt : Trước và sau; hai bờ trong và ngoài; hai cực trên và dưới. Mặt trước của thận lồi hơn mặt sau; cực trên dày hơn cực dưới. Bờ ngoài lồi bờ trong lõm ở đó có rốn thận là nơi các mạch máu mạch bạch huyết thần kinh đi vào còn niệu quản đi ra.

- Bọc ngoài thận là một bao xơ dính chặt vào thận là một tổ chức liên kết đặc có chứa các sợi chun và tổ chức cơ trơn. Phía ngoài bao xơ có tổ chức tế bào mỡ tạo thành bao mỡ quanh thận.

3. CẤU TẠO BÊN TRONG CỦA THẬN:

  3.1. Cấu tạo đại thể: Trên thiết đồ đứng ngang qua thận ta thấy thận gồm có hai phần:

Hình 67 : Bể thận và nhu mô thận

- Bể thận (xoang thận) là phần rỗng ở phía trong

- Nhu mô thận là phần đặc ở phía ngoài.

 3.1.1. Nhu mô thận: Gồm hai phần có màu sắc khác nhau: Vùng vỏ màu đỏ nhạt ở phía ngoài và vùng tuỷ màu đỏ thẫm ở phía trong.

 a. Vùng tuỷ: Được cấu tạo bởi các tháp thận (tháp Malpighi). Mỗi tháp thận là một khối hình nón có đáy hướng về vỏ thận đỉnh hướng về bể thận. Đỉnh của tháp thận gọi là  gai thận (nhú thận). Tháp thận thường nhiều hơn nhú thận. Mỗi thận có khoảng 12 gai thận.Trên mặt mỗi gai thận có nhiều lỗ nhỏ (từ 15-20 lỗ) đó là lỗ của các ống góp mở vào đài thận.

 b. Vùng vỏ: Dày khoảng 4mm bao gồm các hạt thận (hay tiểu cầu thận hay tiểu cầu Malpighi); phần vỏ nằm giữa các tháp thận gọi là cột thận

 3.1.2. Bể thận : Chiếm khoảng 1/3 giữa thận

- Thành bể có những chỗ lồi là đài thận chụp lấy đỉnh của tháp thận

     - Nước tiểu qua gai thận đổ vào đài thận nhỏ ( 7-14 đài thận nhỏ). Các đài nhỏ đổ chung vào đài lớn (2-3 đài lớn) rồi đổ vào bể thận

3.2. Cấu tạo vi thể :

         Nhu mô thận cả vùng vỏ và vùng tủy đều gồm nhiều tiểu quản bài tiết tạo thành. Ở giữa có một lượng nhỏ mô liên kết mạch máu mạch bạch huyết và thần kinh.

Hình 68 : Cấu tạo vi thể của thận

 Tiểu quản bài tiết gồm có hai phần:

  • - Đơn vị thận ( Neuphron) có chức năng bài tiết
  • - Ống thu nhận có chức năng bài tiết nước tiểu vào trong các đài thận

3.2.1. Đơn vị thận : Mỗi đơn vị thận có khoảng một triệu đơn vị thận

   Mỗi đơn vị thận có: tiểu cầu thận→ống lượn gần→quai Helle→ống lượn xa

  a.Tiểu cầu thận(hạt thận- tiểu thể Manpighi):

* Mỗi tiểu cầu thận có hình cầu có hai cực: Cực mạch là nơi có tiểu động mạch vào và tiểu động mạch ra. Cực niệu là nơi nối với ống lượn gần

* Cấu tạo gồm hai phần chính: Chùm mao mạch ở bên trong và bao BaoMan bọc ở phía ngoài

         - Chùm mao mạch của tiểu cầu thận được hình thành từ sự phân nhánh của tiểu động mạch vào sau đó các mao mạch tập trung lại thành tiểu động mạch ra. Đường kính của tiểu động mạch vào lớn hơn đường kính của tiểu động mạch ra do đó trong cuộn mao mạch thận hình thành một huyết áp hơi cao cần thiết cho quá trình lọc nước tiểu ở bao BaoMan

         - Bao BaoMan có hình cái chén với hai lớp biểu mô: lớp trong gọi là lá tạng lớp ngoài gọi là lá thành.Giữa hai lá là một khoang để chứa nước tiểu đầu tiên gọi là khoang BaoMan

  b. Ống lượn gần : Là đoạn ống một đầu thông với bao BaoMan rồi chạy uốn lượn quanh tiểu cầu thận của chính nó. Đầu kia nối với quai Helle.

  c. Quai Helle: Là một ống có hình chữ U cấu tạo gồm ba phần:

 - Đoạn dày xuống có cấu tạo và chức năng giống ống lượn gần

 - Đoạn dày lên ( to hơn ngành xuống) tiếp nối với ống lượn xa có cấu tạo và chức năng giống ống lượn xa

 - Đoạn mỏng ở giữa có hình chữ U

 d. Ống lượn xa: Là phần nối quai Helle với ống góp. Ống có hình trụ chạy ngoằn ngoèo uốn lượn quanh tiểu cầu thận của chính nó

   3.2.2. Ống thu thập : Gồm có ống nối và ống góp

- Ống nối là những ống nhỏ ngắn nối ống lượn xa với ống góp

- Ống góp càng xuống đến gần tháp thận càng to dần vì nhận thêm nhiều ống từ những Neuphron khác.Ống góp đi từ vùng vỏ đến tháp thận và tập trung lại có các lỗ mở ở gai thận.

   Ở người trưởng thành mỗi ngày bình thường bài tiết ra ngoài khoảng 1000-2000 ml nước tiểu

      Tiểu cầu thận ống lượn gần ống lượn xa nằm ở vùng vỏ còn quai Helle ống nối và ống góp thì nằm ở vùng vỏ và vùng tủy.

4- MẠCH MÁU VÀ THẦN KINH CỦA THẬN.

  a. Mạch máu thận:

- Động mạch thận xuất phát từ động mạch chủ bụng trước khi tới rốn thận thì đã phân thành 3-4 nhánh gọi là động mạch phân thuỳ

- Vào trong thận động mạch phân thuỳ lại chia thành 4-5 nhánh chạy vào giữa các tháp thận gọi là động mạch gian thuỳ. Tới đáy tháp động mạch gian thuỳ tách thành các động mạch hình cung chạy chéo trên đáy tháp.

- Các động mạch hình cung lại tách thành nhánh nhỏ hơn gọi là các động mạch gian tiểu thuỳ chạy theo hướng ra ngoài mặt thận.Trên đường đi các nhánh này lại tách thành các nhánh nhỏ hơn đó là tiểu động mạch vào của tiểu cầu thận

- Các tiểu động mạch đến khi vào bao Baoman tiếp tục phân nhánh thành chùm mao mạch tiểu cầu thận.Tại đây diễn ra quá trình lọc máu sau đó các mao mạch được tập trung lại tạo thành  tiểu động mạch ra

- Tiểu động mạch ra đi tới hệ thống ống thận ở đây nó lại toả ra lần thứ hai thành lưới mao mạch nuôi dưỡng tổ chức thận sau quá trình đó chúng được tập trung lại thành tĩnh mạch thận đổ trực tiếp vào tĩnh mạch chủ dưới.

Hình 69 : Mạch máu của thận

Hình 70 : Các mao mạch ở trong thận

                      * Đặc điểm mạch máu thận:

        Mạch máu thận có hai tác dụng : Tác dụng thứ nhất là cung cấp chất dinh dưỡng cho các bộ phận trong thận.Tác dụng thứ hai là tham gia hình thành nước tiểu. Do vậy mạch máu thận có một số đặc điểm sau:

  * Động mạch thận: Được xuất phát từ động mạch chủ bụng áp lực cao lưu lượng lớn máu lưu thông nhanh

  Người ta đã tính: cứ 4-5 phút lượng máu qua thận có thể tương ứng với lượng máu toàn bộ cơ thể .

  * Tiểu động mạch vào ngắn và dày. Tiểu động mạch ra dài và mảnh tạo cho áp lực khá cao điều này có lợi cho quá trình lọc nước tiểu có thể loại trừ được các sản phẩm và các vật chất có hại sau quá trình trao đổi chất

  * Trong thận có 2 cuộn mao mạch máu: Thứ nhất là cuộn mao mạch trong tiểu cầu thận có chức năng lọc. Thứ hai là cuộn mao mạch xung quanh các ống sinh niệu thực hiện chức năng trao đổi chất

b. Thần kinh: Thận được chi phối thần kinh từ các nhánh của đám rối thận thuộc hệ thần kinh thực vật đi dọc theo động mạch thận . Các thần kinh cảm giác đau chủ yếu ở bể thận đi vào tuỷ sống qua các thần kinh tạng.

II- NIỆU QUẢN.

* Là đoạn nối tiếp với bể thận dẫn nước tiểu từ bể thận tới bàng quang. Niệu quản nằm sau phúc mạc dọc hai bên cột sống thắt lưng sát thành bụng sau niệu quản dài khoảng 25-28cm thay đổi theo giới tính vị trí (trái dài hơn phải) chiều cao...và được chia làm ba đoạn: bụng chậu hông và bàng quang.

  - Đoạn bụng : Niệu quản chạy sát thành bụng sau xuống phía dưới và chếch vào trong.

  - Đoạn chậu hông: Từ đường cung xương chậu qua các mạch của chậu theo thành bên của chậu vào chậu hông bé.

  - Đoạn bàng quang: Đi từ gần bàng quang niệu quản đi hơi chếch qua thành tạng này

* Thành của niệu quản gồm ba lớp:

- Lớp niêm mạc liên tục với niêm mạc bể thận ở trên và với bàng quang ở dưới.

- Lớp cơ gồm ba lớp : Trong và ngoài chạy dọc giữa chạy vòng.

- Lớp ngoài cùng là lớp thanh mạc được cấu tạo bởi tổ chức liên kết.

III- BÀNG QUANG.

        Là một tạng rỗng dung tích khoảng 500-700ml nằm trong chậu hông bé. Bàng quang có hình tháp đáy hướng xuống dưới ra sau về phía trực tràng; đỉnh hướng lên trên ra trước về phía thành bụng; phía sau và phía trên có phúc mạc phủ. Phía trước có một tổ chức mỡ nhão nên có thể dãn rộng khi đầy.

  Cấu tạo thành bàng quang gồm bốn lớp:

  - Trong cùng là lớp niêm mạc có nhiều nếp khi bàng quang đầy thì chúng dãn rộng ra.

  - Lớp dưới niêm mạc

  - Lớp cơ cấu tạo bởi các sợi cơ trơn nơi thông với niệu đạo các sợi cơ họp thành bó vòng tròn và dầy.

  - Ngoài cùng là lớp thanh mạc

IV- NIỆU ĐẠO.

* Là đoạn cuối cùng của đường dẫn niệu qua đó nước tiểu được đưa ra ngoài. Niệu đạo của nam có cấu tạo phức tạp vì ngoài việc dẫn nước tiểu nó còn là nơi dẫn tinh dịch . Nó được chia làm ba đoạn: đoạn nhiếp hộ đoạn màng và đoạn xốp và có 3 cơ thắt: trong giữa và ngoài

  Niệu đạo của nữ ngắn hơn nhiều(3-3 5cm) không chia thành các đoạn mở ra ngoài ở tiền đình âm đạo

* Thành của niệu đạo cũng gồm ba lớp: Niêm mạc( có biểu mô lăng trụ nhiều tầng); dưới niêm mạc( có đám rối mạch máu nhỏ); lớp cơ( cơ trơn gồm 2 lớp: trong là cơ dọc ngoài là cơ vòng)

Hình 71 : Bàng quan nữ

Hình 72 : Bàng quan nam

V-ẢNH HƯỞNG CỦA LUYỆN TẬP THỂ THAO ĐỐI VỚI HỆ BÀI TIẾT.

          Ảnh hưởng của LTTT đối với hệ bài tiết thể hiện khá rõ rệt chủ yếu biểu hiện đối với thận biểu mô.

1. Sau một thời gian luyện tập với bài tập có thời gian ngắn cường độ lớn làm cho tiểu quản thận tăng lên. Làm tăng khả năng hấp thụ protein của tiểu quản thận.

2. Sau một thời gian luyện tập với bài tập có thời gian dài cường độ lớn mao mạch huyết quản của tiểu cầu thận to ra và chứa đầy máu khoảng cách và kích cỡ đường kính của lỗ nội bì không giống nhau độ dày của màng giảm. Từ đó làm tăng tính thông suốt của màng thấm và làm tăng khả năng hấp thụ của tiểu quản thận.

More...

HỆ HÔ HẤP

By Lê Hữu Hưng

 

HỆ HÔ HẤP

                 * Đại cương về hệ hô hấp:

- Hệ hô hấp bao gồm phổi và đường dẫn khí là: khoang mũi → hầu → thanh quản → khí quản → phế quản.

- Hệ hô hấp có chức năng chủ yếu là trao đổi khí: Hấp thụ O2 và thải khí CO2 không ngừng cho cơ thể

I-KHOANG MŨI.

Hình 44 : Khoang mũi

     Mũi được chia thành 3 bộ phận: Mũi ngoài hốc mũi và các xoang mũi.

1. Đặc điểm của hốc mũi: Mũi gồm hai hốc mũi ngăn cách nhau bởi một vách đứng dọc ở giữa. Hốc mũi gồm 4 thành: trên dưới trong và ngoài.

      Thành ngoài của hốc mũi có ba xương xoăn nhô ra như những mái hiên. Các xương xoăn mũi chia hốc mũi làm 3 ngách:

- Ngách mũi dưới nằm dưới xương xoăn mũi dưới.

- Ngách mũi giữa nằm dưới xương xoăn mũi dưới và giữa.

- Ngách mũi trên nằm giữa xương xoăn mũi giữa và trên.

         Ba ngách này thông với nhau bởi ngách mũi chung nằm ở vách ngăn chung của mũi và thông với các xoang ở xung quanh mặt (xoang trán xoang hàm trên xoang bướm xoang sàng) và lớp niêm mạc của những xoang này cũng liên tiếp với niêm mạc mũi.

       Tác dụng của những ngách mũi là làm tăng sự tiếp xúc của không khí với các mao mạch dày đặc của niêm mạc mũi.

2. Cấu tạo của lớp niêm mạc mũi: Niêm mạc hốc mũi được chia làm hai tầng:

* Tầng trên: Phía trên xương xoăn mũi giữa. Tầng này có nhiều tế bào khứu giác để phân biệt mùi vị.

* Tầng dưới: Niêm mạc tầng này gọi là tầng hô hấp nó có đặc điểm:

  - Được lát bởi biểu mô rung hình trụ nhiều tầng .

  - Có màu hồng vì có nhiểu mạch máu sưởi ấm không khí khi đi qua mũi

  - Không khí còn được làm ẩm khi đi qua các ngách vì ngách dưới thông với ống lệ tỵ

  - Khoang mũi còn có nhiều lông mũi và dịch nhầy làm sạch không khí.

II- HẦU.(xem: Hệ tiêu hoá)

III- THANH QUẢN.

  - Thanh quản  vừa là một phần của đường hô hấp vừa là cơ quan phát âm chính

  - Thanh quản được cấu tạo bởi các sụn dây chằng và cơ.

  - Khung sụn của thanh quản khá phát triển cơ có nhiệm vụ chuyển động khung sụn. Mặt trong khung sụn có niêm mạc che phủ.

  - Thanh quản nằm phía trước cổ ngang các đốt sống cổ 4 5 6. ngay dưới xương móng.

   1. Các sụn của thanh quản : có 9 sụn: 3 sụn lẻ và 3 đôi sụn:

a. Sụn giáp:

   - Gồm hai mảnh sụn hình tứ giác tiếp với nhau phía trước theo một góc 90độ chỗ tiếp ráp có thể sờ thấy dưới da

- Bốn góc sụn có bốn sừng: hai sừng trên to tiếp với xương móng; hai sừng dưới nhỏ tiếp với sụn nhẫn.

 b. Sụn nhẫn: Có hình giống một cái nhẫn.

 - Phần dày của sụn hướng về sau gọi là mặt nhẫn

 - Phần hẹp (cung) hướng về phía trước

 - Ở bờ trên của bản sụn có hai diện khớp với hai sụn phễu

c. Sụn phễu: Tương tự hình tháp ba mặt một đáy một đỉnh

- Nền của sụn tiếp với diện khớp của bờ trên sụn nhẫn ở đáy có hai mỏm nhô ra: một mỏm hướng ra trước gọi là mỏm thanh âm ; một mỏm hướng ra ngoài hơi ra sau gọi là mỏm cơ.

- Ở đỉnh sụn có sụn sừng đính vào

d. Sụn sừng: Ngồi trên đỉnh sụn phễu và có hình nón.

e. Sụn vừng: Nằm ở phía trong của dây chằng căng từ sụn phễu tới sụn nắp thanh quản.

Hình 45 : Thanh quản nhìn trước

Hình 46 : Thanh quản nhìn sau

f. Sụn thanh thiệt( nắp thanh quản)

  Có hình dáng giống một cái lá phần trên rộng phần dưới hẹp đính vào góc trong sụn giáp. Sụn có hai mặt: Mặt trước hướng về phía lưỡi mặt sau hướng vào lòng thanh quản.

      2. Cấu tạo bên trong của thanh quản:

Hình 47 : Các dây thanh âm của thanh quản

- Mặt trong của thanh quản có lớp niêm mạc che phủ

- Dưới lớp niêm mạc có một lớp tổ chức chun chạy theo hướng dọc từ góc sụn giáp tới mỏm thanh âm của sụn phễu tham gia cấu tạo nên dây thanh âm gồm hai đôi dây : đôi dây thanh âm trên ( còn gọi là dây chằng tiền đình) và đôi dây thanh âm dưới (đôi này mới trực tiếp phát âm nên gọi là đôi dây thanh âm thật)

- Các dây thanh âm đều có niêm mạc che phủ tạo thành các nếp thanh âm:

  + Nếp trên là nếp tiền đình (nếp thanh thất) do niêm mạc phủ lên dây thanh âm trên

  + Nếp dưới là nếp thanh âm do niêm mạc phủ lên dây thanh âm dưới

- Hai nếp này chia thanh quản làm 3 khoang:

 + Khoang trên là khoang tiền đình ở giữa hai nếp tiền đình loe như miệng phễu trước là sụn thanh thiệt sau thông với hầu

 + Khoang thanh môn (buồng thanh quản): Nằm ở giữa nếp thanh âm và nếp tiền đình giữ vai trò như một bộ máy cộng hưởng.

 + Khoang dưới là khoang dưới thanh môn: nằm ở phía dưới hai nếp thanh âm thông với khí quản

- Giữa hai nếp tiền đình là khe tiền đình

- Giữa hai nếp thanh âm (phải và trái) có khe thanh môn. Khi không khí trong cơ thể đi qua khe thanh môn làm cho dây thanh âm chấn động từ đó phát ra âm thanh

3. Các cơ thanh quản: Là tổ chức cơ vân gồm hai nhóm: nhóm ngoài và nhóm trong.

Hình 48 : Cơ của thanh quản nhìn nghiêng

  

Hình 49 : Cơ của thanh quản nhìn sau

a. Nhóm ngoài:

  - Các cơ : ức-giáp; giáp-móng có tác dụng nâng và hạ thanh quản

  - Cơ nhẫn giáp : Từ bờ trên cung sụn nhẫn tới bờ dưới mảnh bên sụn giáp có tác dụng làm nghiêng sụn giáp và kéo căng dây thanh âm

b. Nhóm trong:

- Cơ nhẫn phễu sau: Từ mặt sau sụn nhẫn tới mỏm cơ sụn phễu: làm mở thanh môn

- Cơ nhẫn phễu bên: Từ bờ cung trên sụn nhẫn tới mỏm cơ sụn phễu: làm khép thanh môn

- Cơ giáp -phễu: Từ sụn giáp đến sụn phễu: làm khép thanh môn

- Các cơ liên phễu ngang liên phễu chéo làm khép thanh môn

IV- KHÍ QUẢN

Hình 50 : Khí quản và các phế quản

* Vị trí: - Khí quản nằm trước thực quản

- Đầu trên khí quản nối với sụn nhẫn bởi dây chằng ở đoạn đốt sống cổ 6 7

- Phía dưới ngang mức đốt ngực 4 5 .

* Cấu tạo:

 - Khí quản là một ống sụn dài từ 11-13cm được cấu tạo bởi 16-20 vòng sụn trong hình móng ngựa hở ở phía sau và được che kín bởi một màng tổ chức liên kết. Các sụn của khí quản được nối với nhau bởi một loại dây chằng vòng tạo nên sự liên kết đàn hồi. Sụn khí quản có tác dụng chống đỡ duy trì đường hô hấp luôn trong trạng thái mở để quá trình hô hấp được tiến hành bình thường. Tổ chức liên kết phía sau khí quản là cơ trơn và các mô liên kết tạo thành

Vì khí quản nằm ở cả đoạn cổ và đoạn ngực nên người ta chia làm  hai đoạn : đoạn cổ và đoạn ngực.

 - Mặt trong khí quản có niêm mạc che phủ. Lớp này có chứa các hạch tổ chức limphô riêng rẽ và được lợp bởi một lớp biểu mô rung có khả năng chuyển động từ trong ra ngoài.

Hình 51 : Khí quản cắt ngang

 * Liên quan:   - Ở trước các vòng sụn từ thứ 2- 4 có eo tuyến giáp.

                         - Rãnh giữa khí quản và thực quản là chỗ các dây thần kinh và mạch máu nằm

                         - Trong ổ ngực khí quản nằm ở trong trung thất: phía trước là tuyến ức động mạch chủ tĩnh mạch cánh tay đầu trái phía sau có thực quản đi cùng.

V- PHẾ QUẢN:

     Gồm phế quản gốc phải và phế quản gốc trái được tách ra từ khí quản ở ngang mức đốt sống ngực 4 5; Hai phế quản tạo với nhau một góc 70độ: phế quản gốc phải ngắn và to hơn phế quản gốc trái

   Phế quản gốc phải và trái gọi là phế quản cấp I đi đến vùng rốn phổi thì phân thành phế quản cấp II chui vào trong các thuỳ phổi. Sau đó phế quản cấp II lại tiếp tục phân chia thành các phế quản nhỏ hơn đường kính giảm dần theo mức độ phân chia. Trải qua khoảng 23 lần phân chia theo cấp số nhân thì tạo thành phế quản nhỏ nhất có đường kính khoảng 1mm gọi là tiểu phế quản (hay phế quản tiểu thuỳ). Toàn bộ phế quản gốc và sự phân chia của nó gọi là cây phế quản

 - Cấu tạo của thành phế quản cũng giống như khí quản. Chúng gồm những nửa vòng sụn trong nhưng khác ở chỗ là các phế quản càng nhỏ thì phần sụn càng ít đi và khi thành các phế quản nhỏ nhất thì không còn vết tích của sụn nữa.

 - Mặt trong của các phế quản được phủ một lớp niêm mạc. Niêm mạc này cũng được lợp bởi  biểu mô rung nhiều tầng.

VI- PHỔI:

1- Vị trí: Gồm hai lá phổi phải và trái nằm hai bên trung thất

Hình 52 : Vị trí của phổi

2- Cấu tạo đại thể của phổi: Phổi có hình nón cụt có 3 mặt 3 bờ và một đỉnh.

Phổi phải và phổi trái không giống nhau về hình thể và kích thước: phổi phải ngắn và rộng hơn; phổi trái dài và hẹp hơn. 

a. Các mặt của phổi:

    * Mặt ngoài (mặt sườn): Có các ấn sườn

    * Mặt trong (mặt trung thất): Có rốn phổi phế quản mạch máu bạch huyết thần kinh. Các phần này họp lại thành cuống phổi. Mặt trung thất có các vết lõm tương ứng với tim gọi là hố tim (hố trái sâu hơn vì tim lệch sang trái)

    * Mặt hoành: Hướng về phía cơ hoành có các vết lõm tương ứng với vòm hoành phải và trái.

b. Các bờ của phổi:

  * Bờ trước: Nằm ở phía trước ngăn cách mặt sườn với mặt trung thất

  * Bờ sau: Chạy dọc theo cột sống ngăn cách mặt sườn với mặt trung thất ở phía sau

  * Bờ dưới: Nằm giữa một bên là mặt sườn với mặt hoành và mặt hoành với mặt trung thất.

c. Các thuỳ của phổi: Trên mặt phổi có các rãnh ăn sâu chia phổi ra thành các thuỳ

+ Phổi trái có một rãnh(khe) chếch từ trên xuống dưới từ sau ra trước chia nó ra làm hai thuỳ: trên và dưới

+ Phổi phải cũng có một khe chạy giống như phổi trái và một khe chạy ngang từ giữa của khe này ra trước dọc bờ sụn sườn VI chia phổi phải ra 3 thuỳ: trên giữa và dưới

d. Đỉnh phổi: Là phần phổi thò lên lỗ trên của lồng ngực 3-4cm trên xương sườn I

3. Cấu tạo vi thể của phổi:

Hình 53 : Cấu trúc của đường dẫn khí trong tiểu thùy phổi

- Mỗi thuỳ phổi lại phân thành các tiểu thuỳ phổi mỗi tiểu thuỳ là một đơn vị phổi giữa các tiểu thuỳ đều có mạch máu thần kinh mạch bạch huyết

- Các tiểu thuỳ nằm sát mặt phổi có hình tháp đỉnh hướng vào trong nếu ở sâu thì có hình đa giác.

    Đi vào trong tiểu thuỳ phổi là các tiểu phế quản khi vào trong các tiểu thuỳ các tiểu phế quản phân đôi 5-6 lần thành 12-18 nhánh nhỏ hơn gọi là tiểu phế quản tận cùng ( có đường kính 0 5mm). Thành của các tiểu phế quản tận cùng có các nang túi ở trong mỗi nang túi các tiểu phế quản tận cùng phân ra thành các tiểu phế quản phế nang (hay tiểu phế quản hô hấp). Các tiểu phế quản phế nang lại phân thành các ống phế nang. Mỗi ống phế nang lại gồm hai túi phế nang. Thành của ống và túi phế nang rỗng có hình như tổ ong gọi là phế nang.

    Từ tiểu phế quản hô hấp đến phế nang đều có thể tiến hành trao đổi khí đây được gọi là phần hô hấp. Trong phần hô hấp thì phế nang là nơi trao đổi khí chủ yếu  

- Đường kính của mỗi phế nang khoảng 0 2 mm

- Diện tích của mỗi phế nang khoảng 0 125 mm2

  Ở người có chừng 500- 700 triệu phế nang với tổng diện tích lên tới 72-100 m2.

* Cấu tạo của phế nang:

- Thành của phế nang là một màng rất mỏng có các sợi chun làm cho phế nang có tính đàn hồi

 - Mặt trong có biểu mô một tầng lát kín.

 - Bao quanh và sát thành phế nang là một lưới mao mạch dầy và mau.

Hình54:  Sự trao đổi khí ở phế nang

4. Sự trao đổi khí ở phế nang:

 -Giữa mao mạch và phế nang có một màng mỏng ngăn cách được gọi là màng hô hấp.Tại màng hô hấp sẽ xảy ra quá trình trao đổi khí O2 và CO2 giữa phế nang và máu

 - O2 của không khí thấm qua thành phế nang màng hô hấp và thành mao mạch vào máu còn CO2 thì từ máu thấm qua thành mao mạch màng hô hấp và thành phế nang vào phế nang

5- Màng phổi (phế mạc): Gồm hai lá:

 * Lá tạng: Bọc sát phổi trừ rốn phổi ở rốn lá tạng quặt lại liên tiếp với lá thành

 * Lá thành: Dán vào mặt trong lồng ngực

       Giữa hai lá một khoang có áp suất âm trong khoang có dịch thanh mạc làm giảm ma sát giữa hai lá khi thở

6-Mạch máu và thần kinh của phổi:

a. Mạch máu của phổi

Hình55  : tuần hoàn máu ở phổi

 * Đi vào mỗi phổi là một nhánh của động mạch phổi. Động mạch này mang máu từ tâm thất phải tới phổi máu này là máu tĩnh mạch có nhiệm vụ trao đổi khí. Động mạch phổi đi vào rốn phổi phân nhánh cuối cùng tạo thành mạng mao mạch bao quanh các phế nang tiến hành trao đổi khí thải CO2 và nhận O2 làm cho máu tĩnh mạch thành máu động mạch rồi qua tĩnh mạch phổi đổ vào tâm nhĩ trái.Từ mỗi phổi đi ra  có hai tĩnh mạch phổi cả bốn tĩnh mạch phổi của hai lá cùng đổ về tâm nhĩ trái của tim

* Đi vào mỗi phổi còn có nhánh của động mạch phế quản. Động mạch này đi vào phổi phân nhánh đi tới mạng mao mạch để cung cấp chất dinh dưỡng cho phổi rồi chuyển thành tĩnh mạch phế nang đổ vào tâm nhĩ phải

       Như vậy mạch máu phổi có khác so với các mạch máu khác là: Động mạch phổi mang máu tĩnh mạch còn tĩnh mạch phổi mang máu động mạch

b.Thần kinh của phổi:

 * Phổi được chi phối bởi các nhánh của thần kinh phế vị và thần kinh giao cảm.

VII- TRUNG THẤT

 Là một khoang nằm giữa hai lá phổi giới hạn bởi:

  • - Trước là xương ức
  • - Sau là cột sống
  • - Trên là lỗ ngực trên
  • - Hai bên là màng phổi mặt trung thất
  • - Dưới là cơ hoành

Trong trung thất có chứa nhiều bộ phận như tim tuyến ức các mạch máu lớn khí quản phế quản thực quản thần kinh

VIII. ẢNH HƯỞNG CỦA LUYỆN TẬP THỂ THAO ĐỐI VỚI HỆ HÔ HẤP.   

           Ảnh hưởng của luyện tập thể thao đối với hệ hô hấp chủ yếu biểu hiện đối với phổi. Qua thí nghiệm của động vật cho thấy:

          1. Khi cường độ vận động tăng dần hình dạng phế nang thay đổi từ bình thường đến to dần cho tới khi bị phá vỡ và cuối cùng mất đi. Sự thay đổi này làm giảm chức năng trao đổi khí và lọc khí.

          2. Khi cường độ vận động tăng lên màng hô hấp dày lên sau đó lại mỏng đi và bị phá vỡ. Sự thay đổi này làm giảm khả năng hô hấp của màng hô hấp.

          3. Khi cường độ vận động tăng lên phế nang xuất hiện nhiều lỗ và to ra điều này chứng tỏ đường hô hấp bị viêm nhiễm và màng hô hấp bị phù lên khi phế nang đón khí vào.

          4. Khi cường độ vận động tăng lên tế bào hình cầu và tế bào diệt khuẩn trong phế nang tăng lên.

        Như vậy luyện tập thể thao có tác dụng tốt đối với hệ hô hấp nhất là đối với phổi chỉ khi với liều lượng và cường độ phù hợp

More...

ẢNH HƯỞNG CỦA LUYỆN TẬP TDTT VỚI HỆ TIÊU HÓA

By Lê Hữu Hưng

 

ẢNH HƯỞNG CỦA TẬP LUYỆN THỂ THAO ĐỐI VỚI HỆ TIÊU HOÁ.

           Tập luyện thể thao hợp lí có ảnh hưởng rất tốt đối với sự phát triển của hệ tiêu hoá.

          1. Thường xuyên TLTT có thể làm năng lượng tiêu hao trong cơ thể. Nó hình thành tính phản xạ làm nâng cao khả năng tiêu hoá hấp thụ của dạ dày và đường ruột.

          2. Khi luyện tập thể thao do độ hoạt động của cơ hoành phát triển làm tăng ma sát trong dạ dày và ruột từ đó có thể tăng khả năng tiêu hoá của dạ dày.

          3. Sắp xếp thời gian luyện tập không hợp lí sẽ ảnh hưởng tới khả năng tiêu hoá và hấp thụ của dạ dày ruột. Ví dụ: sau khi ăn cơm tiến hành luyện tập lúc này máu được phân phối lại từ đầu nên sẽ ảnh hưởng đến hoạt động tiết dịch của tuyến tiêu hoá từ đó ảnh hưởng tới khả năng tiêu hoá hấp thụ của ruột dạ dày.

          4. Khi vận động sức nặng quá lớn hoặc trong thời gian dài sẽ xuất hiện mệt mỏi quá độ có thể ảnh hưởng tới khả năng hoạt động của gan. Có những nghiên cứu phát hiện khi cho chuột luyện tập trong khoảng thời gian dài màng nội chất của tế bào gan sẽ giảm xuất hiện hiện tượng phì đại không có quy tắc. Glucoza trong gan giảm rõ rệt làm cho ti lạp thể bị sưng tấy từ đó làm cho tế bào gan bị sưng bị phá huỷ và hoại tử. Điều đó cho thấy thời gian nghỉ ngơi giữa quãng không đủ sẽ dẫn tới mệt mỏi tích tụ trở thành mệt mỏi quá độ.

          5. Nghiên cứu sâu hơn thấy rằng tế bào gan sẽ xuất hiện một số bệnh lí qua một khoảng thời gian luyện tập sẽ dần được hồi phục bình thường. Luyện tập thời gian ngắn lượng vận động nhỏ thì thời gian hồi phục cũng ngắn. Ngược lại luyện tập thời gian dài lượng vận động lớn thì đòi hỏi thời gian hồi phục dài hơn.

          6. Trong luyện tập thể thao vận động viên một số quốc gia vì quyết liệt tranh đấu dành thành tích thắng đối thủ đã dùng các thuốc kích thích. Trải nghiệm qua vận động đã chứng minh steroid đối với cấu tạo gan rất có hại. Sau khi dùng steroid  sẽ khống chế khả năng hình thành và tiết dịch mật làm mật trong tế bào gan ngưng đọng cấu tạo bình thường của tế bào gan bị phá vỡ.

More...

CÁC TUYẾN TIÊU HÓA

By Lê Hữu Hưng

 

CÁC TUYẾN TIÊU HOÁ

I. TUYẾN GAN.

1. Vị trí:

     Gan chủ yếu nằm ở vùng hạ sườn phải thùy trái lấn sang tới vùng thượng vị  và vùng hạ sườn trái ở ngang mức xương sườn  thứ V. 

Hình 39

2. Cấu tạo đại thể: Gan là một tuyến lớn nhất của cơ thể trọng lượng có thể tới 1 5kg có màu nâu đỏ trơn bóng gồm hai mặt là mặt trên và mặt dưới; hai bờ là bờ trước và bờ sau.

* Mặt trên(mặt hoành): Mặt này có mạc chằng liềm nằm theo chiều đứng dọc chia mặt trên ra làm 2 thùy:

                     - Thùy phải rộng

                     - Thùy trái hẹp

* Mặt dưới (mặt tạng): có ba rãnh: hai rãnh dọc và một rãnh ngang tạo thành hình chữ H chia mặt dưới làm bốn thuỳ: thuỳ phải thuỳ trái thuỳ vuông và thuỳ đuôi .

  - Rãnh dọc bên phải: Rộng nửa trước có túi mật nửa sau có tĩnh mạch chủ dưới.

  - Rãnh dọc bên trái: Hẹp là đường đi của dây chằng tròn của gan.

  - Rãnh ngang: Trong rãnh có rốn gan là nơi mạch máu thần kinh đi vào gan còn mạch bạch huyết và ống gan từ gan đi ra.

Hình 40 : Mặt dưới của gan

3- Cấu tạo vi thể của gan:

* Đơn vị cấu tạo của gan là các tiểu thuỳ gan:

- Mỗi tiểu thuỳ gan có cấu trúc gần giống hình lăng trụ bề ngang từ 1-2mm ở giữa là tĩnh mạch trung tâm.

 - Mỗi tiểu thuỳ gan lại được cấu tạo bởi những bè gan xếp theo hình nan hoa toả từ tĩnh mạch trung tâm (tiểu thùy) ra xung quanh.

- Các bè gan được họp bởi hai hàng tế bào biểu mô ở giữa có một mao quản mật xung quanh được bao bọc bởi một lưới mạch máu. Các bè gan chính là những tuyến ống để tạo thành gan. Giữa 2  bè gan có mao động mạch và tĩnh mạch cửa kết hợp với nhau hình thành hốc mạch máu gan.

- Tế bào gan có khả năng tiết ra mật: chất mật đó đổ vào mao quản mật rồi vào các đường dẫn mật nằm giữa các tiểu thuỳ từ đó theo hai ống gan phải và trái đổ vào ống mật chung rồi vào túi mật.

Hình 41 : Cấu tạo vi thể của gan

4-Mạch máu của gan.

  * Máu đi tới gan: là động mạch gantĩnh mạch cửa:

  * Máu từ gan ra chính là tĩnh mạch gan

     - Động mạch gan là một nhánh của động mạch thân tạng đi vào gan để nuôi dưỡng gan.

    - Tĩnh mạch cửa đem máu tĩnh mạch nhận từ dạ dày lá lách ruột tụy vào gan để giải độc một số sản phẩm

  * Đường đi:

- Động mạch gan và tĩnh mạch cửa vào gan qua rốn gan từ đó chia làm hai nhánh phải và trái. Các nhánh này lại phân thành các nhánh nhỏ hơn đi vào giữa các tiểu thuỳ gan nằm cùng với ống mật gọi là mạch máu gian tiểu thuỳ. Các mạch máu gian tiểu thuỳ lại tiếp tục phân nhánh vào trong các tiểu thuỳ và cuối cùng đổ vào mạng mao mạch ở giữa các tế bào của tiểu thuỳ (hốc mạch máu gan) để thực hiện sự trao đổi chất.

-  Sau đó máu lại từ những mao mạch đổ vào tĩnh mạch trung tâm tiểu thuỳ. Nhiều tĩnh mạch trung tâm tiểu thuỳ họp với nhau thành các tĩnh mạch gan đổ vào tĩnh mạch chủ dưới.

     Nhánh động mạch gan nhánh của tĩnh mạch cửa và  tiểu quản mật được gọi là bộ ba cửa.

5-Chức năng của gan.

a. Tiết dịch mật: Người trưởng thành mỗi ngày tiết ra một lượng khoảng 500 - 1000ml. Dịch mật là dịch quan trọng nhất trong các dịch tiêu hoá có thể tiêu hoá được mỡ  và các vật chất có nguồn gốc từ mỡ (cùng với dịch tụy).

b. Tham gia trao đổi vật chất trong cơ thể: Tế bào gan có thể chuyển hoá glucoza dư thừa trong máu thành đường glycogen dự trữ tồn tại trong gan đợi tới khi cơ thể cần nó lại được huy động đổ vào máu đi cung cấp cho cơ thể.

c. Tác dụng giải độc: Trao đổi các chất trong cơ thể sẽ bị nhiễm độc song thông qua quá trình ôxi hoá phân giải kết hợp...của tế bào gan có thể giải độc hoặc làm ­giảm tính độc tố hoặc cũng có thể hoà tan chất độc vào nước và bài tiết ra ngoài có tác dụng bảo vệ cơ thể.

d. Tác dụng phòng ngừa: Trong gan có tế bào có thể nuốt chửng tiêu diệt được vi khuẩn do máu tĩnh mạch mang tới gan là nơi kháng nguyên và miễn dịch tốt.

         e. Thời kì phôi thai gan còn là cơ quan tạo máu chủ yếu: người trưởng thành gan có tác dụng như một cái kho dự trữ huyết dịch điều hoà tuần hoàn máu.

Hình 42 : Mạch máu của gan

  6. Túi mật: Hình quả lê đáy hướng ra trước xuống dưới hơi nhô khỏi bờ trước của gan dài khoảng 8-12cm rộng 3-5cm dung tích 40-60ml. Thành của túi mật được cấu tạo bởi một lớp niêm mạc và một lớp cơ mặt dưới có phúc mạc phủ mặt trên sát với gan.

       Túi mật có chức năng là 1 cái kho chứa dịch mật và điều hòa áp lực của ống dẫn mật

II. TUYẾN TỤY.

    Là tuyến lớn thứ hai tiết ra dịch tuỵ đổ vào tá tràng .

      Tuyến tụy là một tuyến nội-ngoại tiết: nội tiết tiết ra insuline đổ vào máu; ngoại tiết tiết ra dịch tuỵ đổ vào tá tràng . Ống tiết của tụy có thể đổ chung vào một ống cùng với ống mật chủ. Ở một số trường hợp tụy cũng có ống tiết phụ đổ riêng vào lòng tá tràng.

Hình 43 : Tuyến tụy

More...

HỆ TIÊU HÓA

By Lê Hữu Hưng

 

HỆ TIÊU HOÁ

  A- ĐẠI CƯƠNG VỀ HỆ TIÊU HÓA:

      1. Cấu tạo:  Hệ tiêu hóa gồm hệ thống ống tiêu hóa và các tuyến tiêu hóa

   - Hệ thống ống tiêu hóa gồm: khoang miệng→ hầu→ thực quản → dạ dày → ruột non → ruột già.

   - Các tuyến tiêu hóa gồm: tuyến nước bọt tuyến gan tuyến tụy và nhiều tuyến nhỏ nằm trong thành dạ dày và ruột non.

      2. Chức năng:

   - Biến đổi cơ học và hóa học thức ăn từ dạng phức tạp thành những chất có thể tiêu hóa được

   - Hấp thụ những chất dinh dưỡng đã được chế biến và thải chất cặn bã ra khỏi cơ thể.

B- HỆ THỐNG ỐNG TIÊU HÓA:

I- KHOANG MIỆNG:  Khoang miệng được chia làm hai phần : tiền đình miệng và ổ miệng chính thức.

Hình 33 : Thiết đồ cắt đứng dọc qua đầu và cổ

1. Tiền đình miệng: Là một khoang hình móng ngựa.

- Giới hạn ở phía trước và phía bên là môi và má

- Giới hạn ở phía sau cung răng lợi.

      Tiền đình miệng thông với bên ngoài bởi lỗ miệng thông với ổ miệng chính thức khi há miệng và khi ngậm miệng thì thông qua kẽ răng và qua hai lỗ bên nằm sau phía răng hàm cuối cùng

2.Ổ miệng chính thức:

* Giới hạn :

 - Phía trên là vòm miệng được cấu tạo bởi khẩu cái cứng và một phần khẩu cái mềm

- Phía dưới là nền miệng có lưỡi

- Phia trước bên là cung răng lợi.

- Phía sau thông với hầu

  a. Đặc điểm của lưỡi:

- Lưỡi được cấu tạo bởi một khối cơ vân có vai trò quan trọng trong việc nhào trộn thức ăn nói và nếm thức ăn.

- Trên mặt lưỡi và hai bên lưỡi có các gai lưỡi có tác dụng thu nhận các kích thích về đau đớn và nóng lạnh.Xen kẽ giữa các gai lưỡi có các nụ vị giác có chức năng thu nhận các kích thích về vị giác

b. Răng:

* Cấu tạo chung của một răng: Gồm có ba phần:

    - Thân răng(vành răng): Là phần ở phía trên lợi

    - Chân răng: là phần nằm trong huyệt răng

    - Cổ răng:là chỗ thắt ở giữa có lợi bao quanh

  Trên thiết đồ cắt đứng dọc qua một răng: răng gồm có ba lớp:

 + Lớp trong cùng là tủy răng có mạch máu và thần kinh

 + Lớp giữa là ngà răng: Là một chất rắn màu vàng

 + Lớp ngoài cùng: Ở vành răng được bao bọc bởi một tổ chức rắn hơn ngà răng trong bóng gọi là men răng.Ở chân răng được phủ bởi một chất chắc màu vàng đục gọi là cement còn gọi là xương răng

* Số lượng và công thức răng: Ở người có hai loại:

- Trẻ em là răng sữa:

 + Số lượng: 20 chiếc

 + Công thức cho 1/2 hàm:

   Răng cửa: 2/2 ; Răng nanh: 1/1; Răng hàm bé: 2/2

- Ở người lớn là răng vĩnh viễn:

 + Số lượng:32 chiếc

 + Công thức cho 1/2 hàm:

Răng cửa: 2/2 ; Răng nanh: 1/1 ;Răng hàm bé: 2/2 ;Răng hàm lớn: 3/3

II- HẦU (HỌNG):

 1- Cấu tạo đại thể của hầu :

    Là ngã tư của đường tiêu hóa và đường hô hấp. Hầu gồm ba phần:

  • - Phần trên là tỵ hầu(hầu mũi). Tỵ hầu thông với hốc mũi bởi hai lỗ mũi sau và thông với hòm nhĩ qua hai lỗ vòi nhĩ.
  • - Phần giữa là khẩu hầu(hầu miệng). Khẩu hầu thông với ổ miệng qua eo họng
  • - Phần dưới là thanh hầu (hầu thanh quản). Thanh hầu mở trực tiếp vào thực quản ngang mức đốt cổ 6 ; 7 và thanh hầu cũng thông với thanh quản qua lỗ vào thanh quản.

       Như vậy có 7 lỗ thông với hầu : hai lỗ vòi nhĩ hai lỗ mũi sau một lỗ eo họng một lỗ thực quản một lỗ thanh quản. Khi nuốt chỉ có một lỗ mở thông hầu với thực quản còn lỗ mũi sau lỗ vòi nhĩ được màn hầu nâng lên khi cơ nâng màn hầu co (mỗi bên có 3 cơ); lỗ thanh quản được đóng bởi sụn nắp thanh quản.

 2-Cấu tạo vi thể của thành hầu:

              Gồm 3 lớp:

 * Lớp trong cùng là lớp niêm mạc: Trong lớp này có một tổ chức bạch huyết rất phát triển tạo thành các tuyến hạnh nhân bao quanh hầu

 * Lớp giữa là lớp cơ: Được cấu tạo bởi cơ vân gồm có:

 - Cơ nâng hầu: Có 3 cơ. Khi co có tác dụng nâng hầu lên cho động tác nuốt

 - Cơ khít hầu: có 3 cơ chông lên nhau như ngói lợp khi co nó đón và đẩy thức ăn xuống dưới

 * Lớp ngoài cùng là tổ chức liên kết

III- THỰC QUẢN:

1- Vị trí và giới hạn:

- Thực quản là một ống thông hầu với dạ dày

- Giới hạn: + Phía trên ở ngang mức đốt cổ VI và VII .

                  + Phía dưới ở ngang mức đốt ngực thứ XI.

- Nó nằm ở phía trước cột sống và nằm trên đường giữa của thân người

2- Cấu tạo đại thể:

- Thực quản là một ống dài khoảng 25-30 cm được chia làm 3 đoạn : đoạn cổ đoạn bụng và đoạn ngực.

        + Đoạn cổ thông với hầu

        + Đoạn ngực dài nhất

        + Đoạn bụng ngắn nhất (khoảng 1cm) thông với dạ dày

- Dọc theo thực quản có 3 chỗ thắt:

      + Chỗ thắt trên là nơi hầu đổ vào thực quản

      + Chỗ thắt giữa là nơi thực quản đi qua gần nơi chia đôi của khí quản

      + Chỗ thắt dưới là nơi thực quản đổ vào dạ dầy.

 2-Cấu tạo vi thể của thành thực quản:

         Thành của thực quản dày khoảng 4 mm gồm 4 lớp:

     - Trong cùng là lớp niêm mạc: Được cấu tạo bởi biểu mô dẹt nhiều tầng và tổ chức liên kết xơ

- Lớp dưới niêm mạc có các tuyến của lớp niêm mạc

- Lớp cơ gồm hai lớp: Ở trong là cơ vòng và lớp ngoài chạy dọc

    + Đoạn trên của thực quản là cơ vân( vì có một số bó cơ ở hầu chạy vào đoạn này)

    + Đoạn ngực thì cơ vân dần dần chuyển sang cơ trơn

    + Đoạn bụng thì hoàn toàn là cơ trơn.

- Lớp ngoài cùng là lớp thanh mạc:không có ở  đoạn cổ và đoạn ngực mà chỉ có ở đoạn bụng

IV- DẠ DÀY.

Hình 34 : Vị trí của dạ dày

1- Vị trí:

  - Dạ dày là chỗ phình lớn nhất của ống tiêu hoá có dung tích 3 đến 3 5 lít ở người lớn hình giống như một cái tù và.

  - Dạ dày nằm chủ yếu trong vùng thượng vị bên trái của mặt phẳng giữa

        * Liên quan:

           - Phía trên sát với cơ hoành

           - Bên phải đi tới gan

           - Bên trái giáp với tỳ.

           - Bên dưới giáp với tụy

     Tuy vậy vị trí của dạ dày không phải lúc nào cũng cố định mà nó có thể thay đổi theo tư thế của cơ thể.Khi thực hiện những bài tập TDTT như ưỡn thân hãm vòng treo chuối tay... thì dạ dày di chuyển đáng kể so với vị trí bình thường.

2-Cấu tạo đại thể của dạ dày:

   - Dạ dày có 2 mặt: Mặt trước và mặt sau có 2 bờ là bờ conglớn bờ cong nhỏ.

   - Dạ dày gồm bốn phần:

    + Tâm vị: Là nơi thức ăn đổ vào dạ dày

    + Môn vị: Là nơi thức ăn đổ vào tá tràng

    + Thân vị: Nối giữa tâm vị và môn vị

    + Đáy vị: Là một phần dạ dày nằm bên trái nơi thực quản đổ vào dạ dày và nằm cao hơn  đường thẳng kẻ ngang qua  đó

Hình 35 : Cơ của dạ dày   

3-Cấu tạo vi thể của dạ dày: Thành của dạ dày được cấu tạo bởi 5 lớp:

 * Lớp trong cùng là lớp niêm mạc: Bề mặt lớp này có nhiều nếp chạy dọc theo thân dạ dày nhờ đó thức ăn có thể di chuyển được dễ dàng

  - Trong lớp niêm mạc của thân vị và đáy vị có các tuyến tiết ra dịch vị gồm hai loại tế bào:Tế bào chính tiết ra men của dịch vị và tế bào viền tiết ra acit clohydric.

* Lớp dưới niêm mạc khá phát triển: đây có đám rối thần kinh dưới niêm mạc

* Lớp cơ gồm ba lớp: Trong cùng là là cơ chéo giữa là cơ vòng ngoài là cơ dọc

* Lớp dưới thanh mạc: Có đám rối thần kinh dưới thanh mạc;

* Lớp thanh mạc ở ngoài cùng: Là một phần của lá tạng phúc mạc.

4- Mạch máu và thần kinh của dạ dày:

a. Mạch máu:   Các mạch máu và mạch bạch huyết lớn đến dạ dày chủ yếu tập trung ở hai bờ cong lớn và bé của dạ dày. Gồm có: Động mạch vị phải và động mạch vị trái. Từ các động mạch cho ra các mao mạch

b. Thần kinh: Chỉ đạo sự hoạt động của dạ dày là dây thần kinh phế vị( dây X). Ở dạ dày có các nhánh tận của dây X là:

- Nhánh vị trước tham gia cấu tạo nên đám rối thần kinh dạ dày trước

- Nhánh vị sau tham gia cấu tạo nên đám rối thần kinh dạ dày sau

          Từ hai đám rối thần kinh trước và sau hình thành nên các đám rối thần kinh khác trong đó có hai đám rối thần kinh là đám rối dưới niêm mạc và đám rối dưới thanh mạc.

Hình 36 : Lớp niêm mạc của dạ dày

V- RUỘT NON (TIỂU TRÀNG):

    1- Cấu tạo đại thể: Ruột non là một ống dài khoảng 6 5m có nhiều nếp gấp khúc màu trắng như sữa được chia làm 3 đoạn: Tá tràng hỗng tràng và hồi tràng .

     a. Tá tràng:

 - Là đoạn nối với dạ dày dài khoảng 25-30cm uốn cong hình chữ U bao quanh phần đầu tuỵ. Tá tràng gồm có: Khúc ngang trên khúc xuống khúc ngang dưới và khúc lên.

 - Tá tràng là đoạn ngắn nhất nhưng quan trọng nhất vì có ống tiết của hai ống tiêu hoá lớn là gan và tuỵ đổ vào.

     b. Hỗng tràng: Phía trên nối tiếp với tá tràng chiếm 2/5 ruột non( trừ đoạn tá tràng). Ống hỗng tràng lớn hơn hồi tràng thành cũng dầy hơn. có nhiều mạch máu hơn. Trên cơ thể sống có màu đỏ

  • c. Hồi tràng: Là đoạn nối hỗng tràng với ruột già chiếm 3/5 ruột non.Ống hồi tràng nhỏ thành mỏng.ít mạch máu hơn nên màu hơi nhạt

       Đoạn cuối cùng của hồi tràng có cơ thắt hồi manh tràng tạo thành van có tác dụng ngăn không cho các chất cặn bã từ ruột già lên ruột non

      Toàn bộ hỗng tràng và hồi tràng được treo vào một màng rất rõ rệt gọi là  mạc treo tràng. Trong mạc treo tràng có thần kinh và mạch máu để chỉ huy sự vận động của ruột

Hình 37 : Tá tràng

2-Cấu tạo vi thể của thành ruột non: Gồm bốn lớp:

 a. Lớp niêm mạc: Lớp niêm mạc của ruột non có những đặc điểm cấu trúc rất đặc biệt để phù hợp với chức năng hấp thụ thức ăn của nó:

  * Trên bề mặt lớp niêm mạc có những nếp vòng (van ruột) ở đó có các nhung mao (lông ruột) ở ruột có khoảng 4 triệu lông ruột có tác dụng tăng diện tích tiếp xúc của ruột để hấp thụ thức ăn được nhanh chóng

  - Mỗi lông ruột cao khoảng một mm được cấu tạo bởi một lớp tế bào biểu mô hình trụ. Bên trong mỗi lông ruột có mạch máu mạch bạch huyết và thần kinh

  - Ở tá tràng và hỗng tràng có nhiều nhung mao còn ở hồi tràng thì ít hơn

 * Ở giữa các gốc nhung mao là khe ruột có lỗ mở của các  tuyến tiết dịch tiêu hóa và dịch nhầy

 * Trong lớp niêm mạc của ruột non có những đám tổ chức limphô nằm rải rác khắp ruột non. Riêng ở hồi tràng có các đám tổ chức limphô lớn hơn (gọi là mảng Payer)

 b. Lớp dưới niêm mạc: Rất phát triển ở đây có các tuyến tiết dịch tiêu hóa và dịch nhầy

 c. Lớp cơ: Là cơ trơn gồm 2 lớp:cơ vòng ở trong và cơ dọc ở ngoài

     Ở đoạn cuối cùng của hồi tràng cơ khá dày gọi là cơ thắt hồi manh tràng

 d. Lớp thanh mạc: do mô liên kết tạo nên

VI- RUỘT GIÀ (ĐẠI TRÀNG)

Hình 38 : Đại tràng


 
1- Cấu tạo đại thể của ruột già
: Là một đoạn ruột dài khoảng 1 5-2m màu xám tạo thành một cái khung bao ở phía ngoài ruột non chia làm ba đoạn : Manh trang kết tràng trực tràng.

  a. Manh tràng:

      - Là đoạn ngắn nhất và to nhất của đại tràng dài khoảng 6cm rộng khoảng 7cm nằm ở hố chậu phải

     - Phía trên nối với hồi tràng ở đây có van hồi manh tràng.Van có hình như một cái phễu có tác dụng làm cho thức ăn chỉ đi theo một chiều từ ruột non xuống manh tràng mà không đi theo chiều ngược lại

 - Phía dưới manh tràng có một đoạn ruột nhỏ bị teo đi gọi là ruột thừa

 b. Kết tràng: Gồm có:

   * Kết tràng lên

   * Kết tràng ngang

   * Kết tràng xuống

   * Kết tràng sigma

  c. Trực tràng: Là đoạn ruột thẳng dài từ 15 - 20 cm thông với hậu môn

 2- Sự khác nhau giữa ruột già và ruột non:

  • - Ruột già có chiều dài ngắn hơn nhưng đường kính lại lớn hơn
  • - Ruột già có các đoạn thắt phình rất rõ là do các dải cơ dọc ở thành ruột già ngắn hơn chiều dài của ruột
  • - Ruột già có các bờm mỡ là các mấu lồi của lớp thanh mạc của thành ruột
  • - Ruột già có lớp cơ dọc phát triển gồm có ba dải là dải là dải tự do dải mạc treo và dải mạc nối.
  • - Lớp niêm mạc của ruột già không có nhung mao không có các mảng tổ chức limphô. Ở ruột già có các nếp bán nguyệt tạo nên bởi niêm mạc và lớp cơ vòng.

More...

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CƠ QUAN NỘI TẠNG

By Lê Hữu Hưng

 

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC CƠ QUAN NỘI TẠNG

Các cơ quan nội tạng đại đa số nằm trong khoang ngực và khoang bụng thông trực tiếp hoặc gián tiếp với môi trường bên ngoài nhờ các hệ thống ống . Hệ nội tạng bao gồm hệ bài tiết hệ tiêu hoá hệ hô hấp và hệ sinh dục.

          Các hệ nội tạng có rất nhiều cơ quan hình thái của chúng rất đa dạng nhưng căn cứ vào cấu tạo có thể phân thành 2 loại: các cơ quan có dạng khoang rỗng và các cơ quan có dạng nhu mô.

1. Các cơ quan có dạng khoang rỗng

          Các cơ quan này thường có hình ống hoặc hình nang nhưng phần bên trong đều có dạng khoang rỗng. Thành của chúng phân thành 3 chính :

       - Lớp trong là lớp niêm mạc

       - Lớp giữa là lớp cơ

       - Lớp ngoài là lớp thanh mạc

         Giữa lớp niêm mạc và lớp cơ có lớp dưới niêm mạc; giữa lớp cơ và lớp thanh mạc có lớp dưới thanh mạc. Lấy ống tiêu hoá làm ví dụ: Cấu tạo từ trong ra ngoài gồm 4 lớp:

          a. Niêm mạc: Là lớp trong cùng của thành ống tiêu hoá thường tiết ra dịch niêm mạc bảo vệ tính trơn và dính của bề mặt khoang. Niêm mạc có thể phân thành 3 tầng:

          * Tầng biểu mô niêm mạc: là tầng trong cùng của lớp niêm mạc. những vị trí và chức năng khác nhau mà có hai loại biều mô ví dụ: Biểu mô ở khoang miệng hầu thực quản và hậu môn là biều mô lát tầng chức năng chủ yếu là vận chuyển vật chất và bảo vệ. Biểu mô của dạ dày ruột non và ruột già là biểu mô lát trụ tầng có chức năng bài tiết dịch tiêu hoá và hấp thụ.

          * Tầng liên kết đệm nằm dưới tầng biểu mô: do mô liên kết thưa tạo thành bên trong có chứa thần kinh mạch máu và tổ chức bạch huyết. Nó có chức năng liên kết chống đỡ hoãn xung và dinh dưỡng.

           * Tầng cơ niêm mạc: Nằm giữa tầng liên kết đệm và tầng dưới niêm mạc do tầng cơ trơn mỏng tạo thành. Khi cơ co có thể làm thay đổi hình dạng của niêm mạc làm cho máu và bạch huyết lưu động các thể tiết dịch và hấp thụ vật chất dinh dưỡng.

          b. Lớp dưới niêm mạc: Là mô liên kết thưa bên trong có chứa mạch máu bạch huyết thần kinh thể tuyến và mỡ...Khi ống giãn nở hoặc co lại nó có tác dụng hoãn xung.

          c. Lớp cơ: Nằm ở mặt ngoài lớp dưới niêm mạc chủ yếu do cơ trơn tạo thành. Các cơ xếp thành hai tầng bên trong hình vòng bên ngoài dọc giữa hai tầng có đám rối thần kinh gian cơ. Khi cơ tròn và cơ dọc co có thể làm cho ống thu nhỏ hoặc co ngắn.

          d. Lớp thanh mạc: Nằm ở ngoài cùng do mô liên kết tạo thành có chức năng bảo vệ. Ở một số cơ quan bên ngoài bề mặt màng này còn được bao bởi một tầng gian bì gọi là màng tương có thể tiết ra dịch làm trơn nhẵn bề mặt cơ quan giảm ma sát giữa các cơ quan.

2. Các cơ quan có nhu mô

Các cơ quan có nhu mô đặc biệt không có khoang rỗng phần lớn thuộc thể tuyến có chức năng bài tiết dịch. Ví dụ như tuyến nước bọt tuyến tuỵ tuyến gan tinh hoàn và buồng trứng.

More...